Thánh Tông di thảo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Thánh Tông di thảo,chữ Hán:聖宗遺草,Việt dịch là Bản thảo để lại của Thánh Tông Hoàng Đế là một tác phẩm viết bằng chữ Hán, nhưng lấy đề tài ở Việt Nam, tương truyền là của vua Lê Thánh Tông, trị vì từ năm 1460 đến 1497 trong lịch sử Việt Nam.

Giới thiệu sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Về văn bản[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh Tông di thảo là cái tên do người đời sau đặt cho một tác phẩm gồm 19 truyện được viết theo loại hình truyền kỳ, tạp ký và ngụ ngôn (kể từ đây gọi chung là truyện).

Không như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục,...thường ghi lại những tích có sẵn; ở đây người viết hoặc dựa vào truyện dân gian, hoặc dựa vào những sự kiện lịch sử (có liên quan đến thời kháng chiến chống Minh và thời của vua Lê Thánh Tông), hoặc dựa vào văn liệu hay thực tế cuộc sống mà cấu tạo nên truyện mới. Vì vậy có thể nói Thánh Tông di thảo là một sáng tác phẩm, trong đó có phóng tác, có tái tạo và có cả hư cấu [1].

Tuy nhiên, bản gốc đã thất lạc, hiện chỉ còn lưu giữ được bản chép tay gồm 2 quyển do người thời Nguyễn sửa chữa và viết thêm mang ký hiệu A.202 tại Thư viện Khoa học xã hội (Hà Nội).

Năm 2001, bản dịch Thánh Tông di thảo của Nguyễn Bích Ngô đã được nhà xuất bản Văn học ấn hành.

Về tác giả[sửa | sửa mã nguồn]

Trích ý kiến của:

...Thánh Tông di thảo, có thể cho phép ta hiểu rộng rải là tác phẩm của Trần Thánh Tông, Lý Thánh Tông hay Lê Thánh Tông đều được. Nhưng vì Lê Thánh Tông là "ông vua văn học", và vì trong tập có chỗ chép nhiều sự việc về thời Hồng Đức (niên hiệu Lê Thánh Tông: 1470-1497), nên một số người đã khẳng định sách ấy là của ông vua này...Thực ra, nếu chú ý đến tên đất, tên người và nội dung từng truyện; thì tên sách "Thánh Tông di thảo" chỉ là một tên sách giả mạo, chẳng những không phải là tác phẩm của Lê Thánh Tông, mà cũng không phải là sách làm từ thời Lê Thánh Tông. Nó chỉ có thể vào khoảng thế kỷ 19 và 20 gần đây, có thể là sau năm Quý Tỵ niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893)...[2]
...Không thể chỉ căn cứ vào một vài địa danh (Hà Nội, Đoái Hồ,...) hoặc thuật ngữ (Phó bảng, cử nhân,...) đến thời Nguyễn mới có...để kết luận đây là một tác phẩm giả mạo. Vì những danh từ ấy có thể do người sau sửa lại...

Sau khi dẫn giải, giáo sư kết luận: Có thể xem "Thánh Tông di thảo" là một tập sách, trong đó có những bài do Lê Thánh Tông viết, người đời sau sửa chữa; có những bài do người đời sau viết thêm. Chính vì về thế mà nội dung và tính chất của tác phẩm khá phức tạp, nhiều truyện có quan điểm trái ngược nhau [3].

So lại, ý kiến của GS. Bùi Duy Tân được nhiều người tán thành hơn [4].

Mục lục[sửa | sửa mã nguồn]

Bản chép tay Thánh Tông di thảo (mang ký hiệu A.202) ở thời Nguyễn gồm hai quyển. Đầu quyển Thượng có mục lục và bài tựa (không đề tên của tác giả và niên hiệu), cuối mỗi truyện đều có lời bàn của Sơn Nam Thúc [5]. Trong mỗi quyển có các truyện sau:

  • Quyển Thượng có:
-Mai Châu yêu nữ truyện (Truyện yêu nữ Châu Mai)
-Thiềm thừ miêu duệ ký (Bài ký dòng dõi con thiềm thừ)
-Lưỡng Phật đấu thuyết ký (Bài ký hai Phật cãi nhau)
-Phú cái truyện (Truyện người hành khất giàu)
-Nhị thần nữ truyện (Truyện hai gái thần)
-Sơn quân phả (Phả ký về thần núi)
-Giao thư lục (Bức thư của con muỗi)
-Hoa quốc kỳ duyên (Duyên lạ nước Hoa)
-Vũ môn tùng miếu (Trận cười ở núi Vũ Môn)
-Ngư gia chí dị (Truyện lạ nhà thuyền chài)
-Lũng cổ phán từ (Lời phán xử cho hai người điếc và đui)
-Ngọc Nữ quy chân chúa (Ngọc nữ về với chân chúa)
-Hiếu đễ nhị thần ký (Truyện ký về hai thần hiếu đễ).
  • Quyển Hạ có:
-Dương phu truyện (Truyện chồng dê)
-Trần nhân cư thủy phủ (Người trần ở thủy phủ)
-Lãng Bạc phùng tiên (Gặp tiên ở Hồ Tây hồ Lãng Bạc)
-Mộng ký (Truyện ký về một giấc mộng)
-Thử tinh truyện (Truyện tinh chuột)
-Nhất thư thủ thần nữ (Một dòng chữ lấy được gái thần)

Giá trị[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Thánh Tông di thảo có truyện phản ảnh tâm lý căm ghét quân Minh của nhân dân, có truyện đả kích rất mạnh giới sư sãi vô dụng, có truyện đề cập đến tình yêu lứa đôi với những nhân vật nữ nết na, đức hạnh và chung thủy, v.v... Nhìn chung, nhiều truyện rất hấp dẫn, bút pháp vững vàng, hình tượng sinh động, lời văn trau chuốt. Ngoài ra, ở đây tiếng cười trào phúng đầy chất trí tuệ cũng là một đặc điểm khá nổi bật. Tác phẩm này là một cột mốc đánh dấu bước tiến của văn tự sự, từ chỗ nặng về ghi chép sự tích cũ đến chỗ sáng tạo những truyện mới [6].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Bùi Duy Tân, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1637.
  2. ^ Xem chi tiết trong sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tr. 1074 -1084.
  3. ^ Bùi Duy Tân, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 1636-1637.
  4. ^ Nguyễn Đăng Na (tr. 151) và Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam (mục từ "Thánh Tông di thảo") đều biên theo ý này.
  5. ^ Có sách ghi là không rõ tiểu sử. Nhưng theo PGS. TS. Trần Bá Chí thì Sơn Nam Thúc là Nguyễn Hành (1771-1824), hiệu là Nam Thúc, từng được người đời ca ngợi là một trong An Nam ngũ tuyệt trên văn đàn lúc bấy giờ.
  6. ^ Theo Bùi Duy Tân (tr. 1638) và Nguyễn Đăng Na (tr. 151).

Sách tham khảo chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bùi Duy Tân, Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Trần Văn Giáp. Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Tập 1 và Tập 2 in chung). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003.
  • Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam (Tập Một). Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997.