Ngột Lương Hợp Thai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Uriyangqatai)
Jump to navigation Jump to search

Uriyangqatai (chữ Mông Cổ: ᠥᠷᠢᠶᠠᠨᠺᠠᠲᠠᠢ, Урианхайдай, 1200-1271), còn được chép trong sử liệu chữ Hán với phiên âm Hán Việt gồm Ngột Lương Hợp Thai, Ngột Lương Hợp Đái, Ngột Lương Cáp Thai,[1] Ngột Lương Cáp Đải, Ô Đặc Lý Cáp Đạt, Ngột Lương Hợp Đải,[2] Cốt Đãi Ngột Lang,[3][4], là một chỉ huy quân sự kiệt xuất của quân đội Nguyên Mông và là tướng chỉ huy quân Mông Cổ xâm lược Đại Việt lần thứ nhất vào năm 1258. Uriyangqatai được xếp là công thần đứng hàng thứ 3[cần dẫn nguồn] của nhà Nguyên.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Cha của Uriyangqatai là Subotai (Tốc Bất Đài), một trong "Tứ dũng"[5] của Thành Cát Tư Hãn.

Aju, con của Uriyangqatai, là nguyên soái chỉ huy cuộc tấn công tiêu diệt Nam Tống, là người cầm 7 vạn quân trực tiếp tiến chiếm thành Tương Dương.

Uriyangqatai và Aju được xếp vào hàng công thần thứ 3[cần dẫn nguồn] của nhà Nguyên ngang với Bá Nhan, Lý HằngAriq Qaya...

Thành công chiến trận[sửa | sửa mã nguồn]

Uriyangqatai từng tham gia đánh nước Kim của người Nữ Chân ở miền Liêu Đông; tấn công ĐứcBa Lan dưới cờ của Bạt Đô (sau này là hãn của Hãn quốc Kim Trướng) cũng như nhận lệnh tấn công đế quốc Ả Rập cùng Húc Liệt Ngột (em của hãn Mông Cổ là Mông Kha). Sau này Húc Liệt Ngột là hãn của Hãn quốc Y Nhi (hãn quốc này bao gồm IranIraq hiện nay). Nhưng sau đó, Ngột Lương Hợp Thai nhận lệnh mới và không ở trong đội quân đi đánh Bagdad.

Năm 1254, Uriyangqatai tiến chiếm thành công nước Đại Lý - quốc gia của người Thoán Bặc (người DiVân Nam) - và bắt sống vua Đại Lý là Đoàn Hưng Trí. Từ năm 1252, Uriyangqatai và Hốt Tất Liệt đánh Đại Lý, chiếm được kinh đô từ năm 1253, sau đó Hốt Tất Liệt nhận việc mới và Uriyangqatai trở thành tổng chỉ huy.

Khoảng đầu thập niên 1260, Uriyangqatai theo Hốt Tất Liệt tham gia cuộc nội chiến chống lại Ariq Buke[6]

Xâm lăng Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi những biện pháp dụ dỗ và đe dọa đối với nhà Trần không thành công, Uriyangqatai quyết định tấn công Đại Việt vào tháng 12 năm Đinh Tỵ (tức tháng 1 năm 1258). Quân của Uriyangqatai có ít nhất là hơn 3 vạn người trong đó 2 vạn là quân của Đoàn Hưng Trí[7] đi đường từ Vân Nam dọc theo sông Hồng vào Đại Việt.

Ngày 12 tháng Chạp (17 tháng 1 năm 1258), các lực lượng tiên phong của Uriyangqatai do Aju và Cacakdu chỉ huy đã đến Bình Lệ Nguyên và giao chiến với quân Đại Việt do đích thân vua Trần chỉ huy tại đây.[8] Kế hoạch bắt sống bộ chỉ huy nhà Trần và đánh tan quân Đại Việt chỉ trong 1 trận của Uriyangqatai thất bại. Quân Uriyangqatai tiếp tục tấn công ồ ạt, khiến quân Đại Việt phải bỏ kinh đô Thăng Long. Thiếu lương thực, khí hậu bất lợi, sự kháng cự của quân Đại Việt đã khiến quân của Uriyangqatai gặp nhiều khó khăn. Chỉ 12 ngày sau trận giao chiến đầu tiên, tức ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân Đại Việt đã phản công, đánh bật quân của Uriyangqatai khỏi Thăng Long. Uriyangqatai quyết định rút quân về Vân Nam. Giữa đường bị lực lượng của Hà Bổng tập kích gây tổn thất nặng.[9]

Sau khi thoát về Vân Nam, Uriyangqatai được lệnh hội sư công Tống nhưng bị tước giải binh quyền không lâu sau đó.[10] Quyền chỉ huy được giao lại cho con trai của Uriyangqatai là Aju.

Sự xuất hiện trong Hịch tướng sĩ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Uriyangqatai từng là kẻ thù của Đại Việt, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ vẫn ghi nhận những phẩm chất lãnh đạo của Uriyangqatai.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Nguyên sử (dẫn lại từ Hà Văn Tấm và Phạm Thị Tâm (1972).
  2. ^ Theo Đại Việt sử ký toàn thư.
  3. ^ Theo Trần Quốc Tuân trong Hịch tướng sĩ.
  4. ^ Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam chép năm 1972.
  5. ^ Còn gọi là "Tứ khuyển", danh hiệu do Thành Cát Tư Hãn phong cho 4 dũng tướng của mình, ba người kia là Triết Biệt, Giả Lặc MiệtMộc Hoa Lê.
  6. ^ Nguyên sử chép là A Lý Bất Ca. Sử nhà Thanh chép là Ngoạch Loát Bố Cách.
  7. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 71.
  8. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 75-76. Bình Lệ Nguyên theo các tác giả này là vùng huyện Bình Xuyên (Phú Thọ) ngày nay.
  9. ^ Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm (1972), trang 82.
  10. ^ “兀良合台”. 
  11. ^ Dường như trong đoạn này, Trần Quốc Tuấn đã có nhầm lẫn. Nam Chiếu là một quốc gia cổ, tồn tại từ đầu thế kỉ thứ 8 ở vùng Vân Nam. Quốc gia ở vùng Vân Nam bị Ngột Lương Hợp Thai chinh phục là Đại Lý. Đại Lý chính là quốc gia đã đánh bại và chiếm cứ đất đai của Nam Chiếu. Theo các nghiên cứu sử học cũng như dân tộc học hiện đại thì Nam Chiếu là quốc gia của người Bạch, trong khi Đại Lý là quốc gia của người Di. Trước đây, một giả thiết hay được sử dụng là một trong hai quốc gia này là của người Thái, trước khi người Thái di cư do bị đánh bại xuống phía Nam và lập thành vương quốc Thái Lan ngày nay.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]