Đại lễ nghị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đại lễ nghị (chữ Hán: 大礼议) là một loạt những cuộc tranh luận về vấn đề phong hiệu dành cho thân sinh của Minh Thế Tông trong đại lễ tôn xưng Hoàng khảo (theo Tông pháp Hoàng tộc có nghĩa là cha của Hoàng đế) vào đời Minh, giữa Hoàng đế và các đại thần Dương Đình Hòa, Mao Trừng, kéo dài trong 3 năm (1521 – 1524), trở thành một trường đấu tranh chính trị. Triều đình chia làm hai phái: Hộ lễ duy trì lễ chế phong kiến và Nghị lễ ủng hộ nguyện vọng cá nhân của Hoàng đế. Kết quả Minh Thế Tông dựa vào hoàng quyền hùng mạnh, giành được thắng lợi cuối cùng, những người phản đối bị phạt trượng, đình bổng (tiền lương) và đoạt quan chức.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Hiến Tông sinh ra con trai thứ 3 là Minh Hiếu Tông (con trưởng và thứ mất sớm), con trai thứ 4 là Hưng Hiến vương Chu Hữu Nguyên (1476 – 1519, chữ Hiến <獻> này là thụy hiệu, khác chữ Hiến <宪> trong miếu hiệu của Hiến Tông). Hiếu Tông sinh ra Vũ Tông và Úy Điệu vương Chu Hậu Vĩ (1495 – 1496). Vũ Tông không có con. Ngày 14 tháng 3 năm Chánh Đức thứ 16 (1521), Vũ Tông băng ở Báo phòng, Hoàng thái hậu Trương thị cùng Nội các thảo luận lập người kế thừa Hoàng vị. Nội các thủ phụ Dương Đình Hòa căn cứ vào Hoàng Minh tổ huấn, đề nghị lập người kế tự của Chu Hữu Nguyên, tức Hưng vương Chu Hậu Thông (vốn là con thứ, do anh cả Chu Hậu Hi chết yểu), được mọi người tán đồng [1].

Quá trình[sửa | sửa mã nguồn]

Vua – tôi bất đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 3 ÂL, đoàn sứ thần mang theo di chiếu và ý chỉ của Thái hậu khởi hành đi An Lục đón Chu Hậu Thông, ngày 26 ÂL đến nơi. Ngày 1 tháng 4 ÂL, Chu Hậu Thông từ biệt mộ cha, hôm sau lên đường, ngày 22 ÂL đến kinh sư. Sau một cuộc tranh luận nhỏ, theo đề nghị của Dương Đình Hòa, Lễ bộ thượng thư Mao Trừng dùng nghi lễ dành cho Hoàng thái tử đón tiếp Chu Hậu Thông (vào cửa Đông Hoa, ở điện Văn Hoa, chờ ngày lên ngôi). Chu Hậu Thông dựa vào di chiếu (do Dương Đình Hòa soạn khi Vũ Tông còn sống) có 4 chữ "tự hoàng đế vị", cho rằng mình kế thừa ngôi vị, nhưng không phải là hoàng tử của Vũ Tông, nên không chấp nhận. Dưới sự dàn xếp của Trương hoàng thái hậu, triều đình đưa Chu Hậu Thông vào cửa Đại Minh, lên ngôi ở điện Phụng Thiên. Tân hoàng đế chọn niên hiệu cho năm sau là Gia Tĩnh, từ chối niên hiệu Thiệu Trị mà triều thần đề nghị [2].

Ngày 27 tháng 4 ÂL, tân hoàng đế hạ lệnh quần thần nghị định thụy hiệu của Vũ Tông và người tế tự cùng phong hiệu của cha mình. Nội các thủ phụ Dương Đình Hòa cầm đầu triều thần viện dẫn tiền lệ Định Đào vương nhà Hán (sau là Hán Ai đế) và Bộc vương nhà Tống (sau là Tống Anh Tông), cho rằng Thế Tông vốn là dòng thứ vào kế thừa dòng trưởng, nên phải tôn phụng chính thống, cần lấy Minh Hiếu Tông làm Hoàng khảo, Hưng Hiến vương đổi xưng "Hoàng thúc khảo Hưng quốc đại vương", mẹ là Hưng phi Tưởng thị làm "Hoàng thúc mẫu Hưng quốc đại phi", lúc tế tự đối với cha mẹ đẻ thì tự xưng "chất hoàng đế" (chất nghĩa là cháu, tiếng xưng hô đối với chú bác); riêng lấy Sùng Nhân vương Chu Hậu Huyễn làm người kế tự Hưng Hiến vương. Ngày 7 tháng 5, Lễ bộ thượng thư Mao Trừng và văn vũ quần thần hơn 60 người cùng tâu lên Hoàng đế bản kiến nghị này, trong đó còn viết "kẻ nào dị nghị tức là gian tà, đáng chém" [3].

Vị hoàng đế mới 15 tuổi – đã từng khẳng định mình không phải là hoàng tử - chẳng thể đồng ý với bản kiến nghị của triều thần, đôi bên bắt đầu giằng co. Thế Tông vỗ về Dương Đình Hòa, tặng vàng hậu hĩ cho Mao Trừng. Nhưng Dương Đình Hòa không thay đổi, Mao Trừng mềm mỏng hơn đôi chút, cho rằng tương lai Hoàng đế có con, thì lấy con trai thứ 2 thay Chu Hậu Huyễn làm Hưng vương [4].

Lễ chế đắc thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 3 tháng 7 ÂL, Trương Thông dâng sớ ủng hộ hoàng đế, cho rằng Thế Tông kế thừa hoàng thống (kế thừa dòng dõi), mà không kế thừa hoàng tự (con kế thừa cha), tức là "kế thống không kế tự"; còn Hán Ai đế và Tống Anh Tông đều được nuôi nấng trong cung, nên không thể viện dẫn làm tiền lệ với Thế Tông; kiến nghị lấy cha đẻ của Thế Tông làm Hoàng khảo, lập miếu cho Hưng Hiến vương ở Bắc Kinh. Trước đó, Trương Thông và thị lang Vương Toản đã từng nói ra lập luận này, Toản lập tức bị Đình Hòa biếm đi Nam Kinh. Thế Tông rất hài lòng với tấu chương của Thông, Đình Hòa thì bác rằng kẻ thư sinh như Thông chẳng biết gì! [5]

Tháng 10 ÂL, Thế Tông dùng lễ nghênh đón Hoàng thái hậu đưa mẹ mình là Tưởng thị vào cung. Trước đó, hoàng đế đòi từ vị, đưa mẹ về An Lục nên bọn Dương Đình Hòa đành phải nhượng bộ. Trong tháng này, Chức phương chủ sự Hoắc Thao dâng sớ kiến nghị lấy Hưng Hiến vương làm Hoàng khảo, chịu rất nhiều chỉ trích. Hồ Quảng tổng đốc Tịch Thư và Lại bộ Viên ngoại lang Phương Hiến Phu có cùng khẩu khí, nhưng đều không dám dâng sớ nữa! Triều thần kiên quyết đề nghị lấy Hiếu Tông làm Hoàng khảo, chỉ nhân nhượng đặt hiệu cho Hưng Hiến vương/phi là "bản sanh phụ/mẫu Hưng Hiến đế/hậu", không xưng "Hoàng". Năm Gia Tĩnh đầu tiên (1522), Đế bất đắc dĩ làm chiếu chấp nhận như vậy [6].

Hoàng quyền vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng giêng ÂL năm Gia Tĩnh thứ 3 (1524), bọn Trương Thông, Quế Ngạc - vốn bị biếm đi làm Nam Kinh hình bộ chủ sự - dò biết ý Đế, nối nhau dâng sớ nhắc lại việc cũ (sớ của Quế Ngạc là bản sớ cũ của Tịch Thư, Thư đã ngầm gửi cho Ngạc). Đế đem tấu sớ của hai người giao cho triều thần bàn bạc. Dương Đình Hòa cũng biết ý, bèn xin hưu để tránh tai vạ. Lúc này, địa vị Thế Tông đã ổn định, không muốn phải chịu sự áp chế của ông ta nữa, nên dễ dàng chấp thuận. Tưởng Miện thay làm Thủ phụ. Cuộc tranh luận về Đại lễ, sau một thời gian trầm lắng, được thổi bùng trở lại [7].

Tháng 2 ÂL, bọn Lễ bộ thượng thư Uông Tuấn (thay Mao Trừng bệnh chết từ năm thứ 2) cả thảy 73 người dâng sớ xin giữ như cũ, trong lời tâu có đoạn: "… Cẩn thận tập hợp các chương tấu, duy tiến sĩ Trương Thông, chủ sự Hoắc Thao, cấp sự trung Hùng Tiếp cùng Ngạc nghị giống nhau, còn lại hơn 80 sớ của hơn 250 người, đều như bọn thần nghị…". Thông lại dâng sớ nhắc nhở Đế là con trai duy nhất của Hưng Hiến đế, Đế bèn tuyên chiếu triệu bọn Thông, Ngạc, Thư vào kinh. Qua 15 ngày, Đế đáp lại tờ sớ của bọn Uông Tuấn, tỏ ý muốn tận hiếu với các đấng sinh thành, Uông Tuấn bất đắc dĩ tập hợp quần thần xin thêm chữ "Hoàng" vào tôn hiệu. Ngày sóc tháng 3 ÂL, Đế miễn cưỡng làm chiếu đặt tôn hiệu cho Hưng Hiến đế làm "bản sanh Hoàng khảo Cung Mục Hiến hoàng đế", Hưng quốc thái hậu làm "bản sanh mẫu Chương Thánh hoàng thái hậu" [8].

Tháng 5 ÂL, Thông, Ngạc đến Kinh (Thư đến vào tháng 8), được ủy làm Hàn Lâm học sĩ, chuyên phụ trách việc lễ nghi. Từ đây bọn họ trở thành trung tâm của nhóm triều thần ủng hộ Hoàng đế, đương thời gọi là "Nghị lễ phái". Đế làm chiếu cho lập miếu của Hưng Hiến đế trong Đại nội, Uông Tuấn cực lực phản đối, bị bãi chức, lấy Tịch Thư thay thế. Cuộc tranh đấu bước vào giai đoạn kịch liệt nhất [9].

Bọn Lữ Nam, Trâu Thủ Ích (đệ tử của Vương Dương Minh) mấy lần dâng sớ, lời lẽ gay gắt. Nam Kinh lễ bộ chủ sự Hầu Đình Huấn dâng lên "Đại lễ biện". Bọn Cấp sự trung Trương Trùng 32 người, bọn Ngự sử Trịnh Bản Công 31 người cũng dâng sớ ra sức tranh luận. Trạng nguyên thời Chính Đức là Đường Cao cũng dâng sớ nói mát: "Bệ hạ nên xét kỹ để phân biệt với chánh thống, làm dày tôn xưng của cha mẹ." [10][11] Tiếng tăm của bọn Trâu Thủ Ích, Đường Cao rất lớn, gây ra ảnh hưởng mạnh mẽ. Đế vừa buồn vừa thẹn, nên cả giận, những người dâng sớ đợt này bị tống giam, biếm chức, đình bổng (tiền lương) vài tháng, thậm chí bãi truất. Tưởng Miện xem chừng không thể lay chuyển ý Đế, bèn xin hưu, Mao Kỷ thay làm thủ phụ. Lại bộ thượng thư Kiều Vũ nhiều lần phản đối, cũng xin hưu. Phái Hộ lễ rơi vào thế hạ phong [12].

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Sự kiện Tả Thuận Môn

Tháng 7 ÂL, Lại bộ tả thị lang Hà Mạnh Xuân và tu soạn Dương Thận kêu gọi hơn 200 triều thần quỳ khóc ở cửa Tả Thuận; từ giờ Thìn đến giờ Ngọ, hai lần có dụ chỉ mà vẫn không lui. Đế sai Cẩm Y vệ bắt giam 8 người cầm đầu, tiếng kêu khóc lại càng lớn. Đế nổi giận, hạ lệnh tống giam từ ngũ phẩm trở xuống, đình chức từ tứ phẩm trở lên. Mao Kỷ xin tha cho mọi người không được, đành xin hưu (Kỷ ở chức Thủ phụ mới được 3 tháng). Đế xử phạt trượng từ ngũ phẩm trở xuống, đình bổng từ tứ phẩm trở lên; 18 người bị đòn mà chết, 10 người bị sung quân ở biên thùy. Phái Hộ lễ không còn phản đối được nữa! [13]

Tháng 9 ÂL, Đế đổi xưng Hiếu Tông làm Hoàng bá khảo, cha đẻ làm Hoàng khảo, rồi cho biên soạn Đại lễ tập nghịMinh luân đại điển. Tháng giêng năm sau, đại điển soạn xong, thành viên của phái Nghị lễ được thăng tiến; phái Hộ lễ bị biếm trích, bãi truất, thậm chí tống giam; những người đã trí sĩ cũng bị đoạt quan chức [14].

Năm thứ 17 (1538), Thế Tông dâng tôn hiệu cho Minh Thái Tông làm Thành Tổ khải thiên hoằng đạo cao minh triệu vận thánh vũ thần công thuần nhân chí hiếu Văn hoàng đế, cha đẻ làm Duệ Tông tri thiên thủ đạo hồng đức uyên nhân khoan mục thuần thánh cung giản kính văn Hiến hoàng đế, đưa thần chủ của Hiến đế vào thờ trong Thái miếu, sự kiện Đại lễ nghị đến đây thì chấm dứt [15].

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trải qua 3 năm tranh luận, hoàng đế trẻ tuổi Minh Thế Tông đã khám phá ra Hoàng quyền vô địch mà mình đang nắm trong tay, những kẻ chống đối đều bị tống giam hoặc phạt trượng. Từ đây về sau, độc đoán chuyên chế, cố chấp ngang ngược đã trở thành tác phong của triều đại Gia Tĩnh.

Mối bất hòa giữa Thế Tông và bọn đại thần Dương Đình Hòa đã khiến cho những cải cách cuối thời Chính Đức tan thành mây khói. Thế Tông ngày càng hủ hóa, xây dựng tùy tiện, mê tín phương thuật, tôn sùng Đạo giáo, ham muốn được trường sanh bất lão. Những thành viên của phái Nghị lễ chỉ mất lời suông mà được vinh hiển, khiến cho việc xu nịnh hoàng đế trở thành trào lưu đương thời. Từ năm thứ 17 (1538) về sau, 9 trong 14 Nội các thủ phụ: Từ Giai, Cố Đỉnh Thần, Nghiêm Nột, Hạ Ngôn, Quách Phác, Nghiêm Tung, Viên Vĩ, Cao Củng, Lý Xuân Phương nhờ làm Thanh từ (văn tế của Đạo giáo) mà thăng tiến, cho thấy tình trạng suy đồi của nền chính trị Gia Tĩnh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Minh sử, quyển 17, 190, 191, 192, 194, 196, 197, 283
  • Vạn Tư ĐồngMinh sử cảo, quyển 284, liệt truyện 135

Tài liệu khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vưu Thục Quân - Danh phận lễ trật dữ hoàng quyền trọng tố: Đại lễ nghị dữ Gia Tĩnh chính trị văn hóa, Khoa Lịch sử Đại học Quốc Lập Chính Trị, Đài Bắc 2006
  • Cốc Ứng Thái (1620 – 1690) – Minh sử kỷ sự bản mạt

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 190
  2. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 17, 190
  3. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 17, 190, 191
  4. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 191
  5. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 190, 196
  6. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 191, 197
  7. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 190, 191, 196
  8. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 17, 191, 196
  9. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 191, 196, 197
  10. ^ Vạn Tư Đồng, sách đã dẫn
  11. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 283
  12. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 191, 192
  13. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 192
  14. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 196, 197
  15. ^ Minh sử, sách đã dẫn, quyển 17