Phóng viên không biên giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phóng viên không biên giới
RSF trilingual.gif
Thành lập 1985
Sáng lập bởi Robert Ménard, Rémy Loury, Jacques MolénatÉmilien Jubineau
Loại Tổ chức phi chính phủ phi lợi nhuận, Viện nghiên cứu, think tank,
Chức năng tư vấn Liên Hiệp Quốc
Tình trạng pháp lý Đang hoạt động
Trụ sở chính Paris, Pháp
Tổng giám đốc
Christophe Deloire
(từ tháng 7 2012)
Nhân vật chủ chốt
Christian Mihr, CEO RSF Đức
Rubina Möhring, Chủ tịch RSF Áo
Thérèse Obrecht Hodler, Chủ tịch RSF Thụy Sĩ
Ngân sách
Thu nhập: €4.2 triệu (2011)
Chi tiêu: €4.6 triệu (2011)
Nhân viên
khoảng 120
Trang web en.rsf.org

Phóng viên không biên giới hay Ký giả không biên giới (tiếng Pháp: Reporters sans frontières) là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, với mục đích bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức hoạt động dựa trên điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Phóng viên không biên giới do nhà báo người Pháp Robert Ménard thành lập năm 1985. Tên của nó được chọn dựa theo tên của tổ chức Bác sĩ không biên giới.

Ngoài tên chính thức tiếng Pháp Reporters sans frontières (RSF), tổ chức này còn có tên chính thức tiếng Anh: Reporters Without Borders hay RWB, và tiếng Tây Ban Nha: Reporteros Sin Fronteras

Tổ chức và tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Phóng viên không biên giới có văn phòng quốc tế tại Paris, 9 phân hội quốc gia tại châu Âu và 5 văn phòng quốc gia tại Bắc Mỹ và châu Á. Ngoài ra tổ chức còn hoạt động chung với 130 thông tín viên trên khắp các châu lục cũng như với 14 tổ chức đảng phái độc lập với chính phủ.

Tổ chức Phóng viên không biên giới có ngân sách hằng năm vào khoảng 4 triệu Đô la Mỹ, công bố thu nhập trong năm 2006 bao gồm:

Thuộc vào trong số những nhà tài trợ là nhà công nghiệp vũ khí và "ông hoàng" truyền thông đại chúng của Pháp Serge Dassault, tập đoàn truyền thông đại chúng Vivendi và nhà tỉ phú François Pinault[2]. Ngoài ra công ty quảng cáo nổi tiếng Saatchi & Saatchi tại New York đều thực hiện miễn phí toàn bộ các hoạt động chung quanh quan hệ công chúng cho tổ chức này.

Hằng năm, vào Ngày Nhân quyền, tổ chức Phóng viên không biên giới trao tặng Giải Nhân quyền cho những phóng viên nổi bật. Năm 2002 giải được trao cho nhà báo người Nga Grigori Pasko, năm 2004 cho nhà báo và họa sĩ biếm họa Maroc Ali Lmrabet, Michèle Montas từ Haiti và nhật báo châu Phi Daily News. Năm 2005 giải được trao cho Massoud Hamid (Syria), nhà báo Trung Hoa Zhao Yan (赵岩), đài truyền hình độc lập Tolo TV tại Afganistan và Liên minh Quốc gia của các nhà báo Somalia. Năm 2006 là cho nhà báo Win Tin từ Myanma, tờ báo Nga Novaya gazeta, tổ chức nhà báo Congo Journaliste en danger và người bất đồng chính kiến Guillerm Farinas Hernández từ Cuba.

Ấn phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Phóng viên Không Biên giới phát hành các thông cáo báo chí, tường thuật những dữ kiện tìm thấy, và các ấn phẩm định kỳ. Nó xuất bản các tường thuật nhiệm vụ định kỳ về phát triển ở các nước hoặc các vùng riêng lẻ hoặc về một chủ đề cụ thể. [3] Mỗi tháng 12 nó xuất bản một cái nhìn tổng quan hàng năm về các sự kiện liên quan đến quyền tự do thông tin và an ninh của các nhà báo. [4] Nó bảo quản một trang web ( www.rsf.org ) có thể truy cập bằng 6 ngôn ngữ ( tiếng Pháp , tiếng Anh , tiếng Tây Ban Nha , tiếng Ả rập , Trung Quốc , và Ba Tư ). [5]

Predators of Press Freedom (Những lãnh tụ kiềm chế tự do báo chí)[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ năm 2001 Phóng viên Không Biên giới đã xuất bản danh sách Predators of Press Freedom hàng năm đăng lên tên những người, nó cảm thấy là, vi phạm tồi tệ nhất về tự do báo chí. [6][7]

Trong tháng 5 năm 2013 RSF nêu tên 39 nhà lãnh đạo hoặc các nhóm đã kềm kẹp Tự Do Thông Tin:

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nhiều năm RSF đã nhận được một số giải thưởng trong đó có:[8]

Chỉ số tự do báo chí[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Phóng viên không biên giới công bố hằng năm Chỉ số tự do báo chí, một danh sách xếp hạng tự do báo chí trên thế giới. Chỉ số này được công bố lần đầu tiên năm 2002. Chỉ số được lập thành dựa trên những khảo cứu được trả lời từ các tổ chức liên kết, thông tín viên của tổ chức cũng như là từ những nhà báo, nhà nghiên cứu, luật gia và nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới.

Phóng viên không biên giới hỏi những cuộc tấn công dùng bạo lực, giết người hay bắt bớ nhưng cũng điều tra về áp lực gián tiếp chống lại tự do báo chí trong 167 nước trên thế giới. Tổ chức nhấn mạnh rằng chỉ số này chỉ đo độ tự do báo chí chứ không so sánh chất lượng của báo chí của từng nước một. Chỉ số cũng thẩm định áp lực từ những tổ chức phi chính phủ như ETATây Ban Nha.

Dưới đây là danh sách 10 nước đứng đầu và 10 nước đứng cuối trong Chỉ số tự do báo chí năm 2007. Có thể tham khảo danh sách đầy đủ tại đây.

Chỉ số tự do báo chí hằng năm
do Phóng viên không biên giới công bố
Thứ tự Quốc gia Chỉ số Chú thích
2007 2007 2006 2005 2004 2003 2002
1  Iceland 0.75 0.50 0.50 0.50 0.50 0.50
1  Na Uy 0.75 2.00 0.50 0.50 0.50 0.50
3  Estonia 1.00 2.00 1.50 2.00 2.50
3  Slovakia 1.00 2.50 0.75 0.50 2.50
5  Bỉ 1.50 4.00 4.00 4.00 1.17 3.50
5 Flag of Finland (bordered).svg Phần Lan 1.50 0.50 0.50 0.50 0.50 0.50
5 Flag of Sweden.svg Thụy Điển 1.50 4.00 2.00 2.00 1.50 1.50
8  Đan Mạch 2.00 5.00 0.50 0.50 1.00 3.00
8  Ireland 2.00 0.50 0.50 0.50 2.83 1.00
8 Flag of Portugal.svg Bồ Đào Nha 2.00 3.00 4.83 4.50 5.17 1.50
... ... ... ... ... ... ... ...
... ... ... ... ... ... ...
160  Uzbekistan 74.88 71.00 66.50 52.13 61.50 45.00
161  Lào 75.00 67.50 66.50 64.33 94.83 89.00
162  Eritrea 79.25 67.25 73.25 86.88 89.17 81.25
163  Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Hoa đại lục) 89.00 94.00 83.00 92.33 91.25 97.00
164  Myanmar 93.75 94.75 88.83 103.63 95.50 96.83
165  Cuba 96.17 95.00 87.00 106.83 97.83 90.25
166  Iran 96.50 90.88 89.17 78.30 89.33 48.25
167  Turkmenistan 103.75 98.50 93.50 99.83 82.83 91.50
168  Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 108.75 109.00 109.00 107.50 99.50 97.50
169 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam 114.75 97.50 99.75 93.25 91.50 83.67

Phê phán, Chỉ trích và tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Những nhà phê bình cáo buộc tổ chức Phóng viên không biên giới đã tường trình về việc phân biệt đối xử nhà báo một cách có chọn lọc trước. Việc chọn lọc các nước mang định hướng của sự chọn lọc từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, bỏ qua tất cả các tường trình về những hoạt động chống lại nhà báo trong những nước đồng minh của Hoa Kỳ (Philippines, Ả Rập Saudi) hay chính trong Hoa Kỳ.[12].

  • Tổ chức đã im lặng nhiều năm trong vụ người quay phim của Al Jazeera, Sami Al-Haj, đã bị bắt cóc trong Pakistan lúc đang trên đường công tác đến Afghanistan, bị tra tấn và vào ngày 13 tháng 6 năm 2002 đã bị dẫn về Guantánamo.[13][14]
  • Tổ chức hoàn toàn không nói gì về vụ của nhà báo người da đen Mumia Abu-Jamal.
  • Việc 16 nhà báo bị giết chết trong lần NATO không kích đài truyền hình Nam Tư RTS cũng không được nhắc đến trong bất cứ một bản tường trình hằng năm nào của tổ chức.[2].
  • Ngày 25/03/2014, Báo Quân đội Nhân dân có bài viết với tiêu đề: ""Cái nhìn thiếu thiện chí của RSF về tự do báo chí ở Việt Nam"" nhằm lên án và chỉ trích Phóng viên không biên giới vì cái nhìn thiếu khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam. ("Cái nhìn thiếu thiện chí của Phóng viên không biên giới về tự do báo chí ở Việt Nam")
  • Theo một bài báo đăng trên trang web của tạp chí Quốc phòng toàn dân cuối tháng 4-2016: Thierry Meyssan - Chủ tịch Nhật báo Paris (Pháp) và nhà báo Red Voltaire đã tố cáo RSF câu kết với “Trung tâm vì Cuba tự do - Center Free Cuba” (tổ chức phản động chống Cuba) để thực hiện hợp đồng trị giá 125.000 USD với điều kiện của CFC đưa ra là RSF phải đưa nhiều thông tin sai sự thật để người nước ngoài biết việc “đàn áp nhà báo ở Cu-ba” và ủng hộ “thân nhân những nhà báo bị bắt giữ”.
  • Tiếp đó, trong tháng 8-2016, Báo Nhân dân, một tờ báo của Việt Nam đã có loạt bài với tựa đề: Phóng viên không biên giới và cái gọi là "Chỉ số tự do báo chí", và nhận xét về RSF như sau:

Mỗi khi cái gọi là “Tổ chức phóng viên không biên giới” (RSF) công bố bảng “xếp hạng tự do báo chí”, hoặc phê phán tự do báo chí ở Việt Nam là các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí lại nhanh chóng hùa theo để vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong khi đó, nhiều năm nay, các nhà báo chân chính và người có lương tri ở phương Tây lại rất bức xúc với lối làm việc mờ ám, không khách quan, rất thiếu trung thực của tổ chức tự xưng vì “nhân quyền” này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phóng viên không biên giới: Income and expenditure 31/12/2006
  2. ^ a ă José Manzaneda: Reporteros sin fronteras... morales 10/02/06
  3. ^ "Mission Reports", Reporters Without Borders, retrieved 21 March 2013
  4. ^ "Overview", Reporters Without Borders, retrieved 21 March 2013
  5. ^ "Reporters Without Borders : For Freedom of Information", Reporters Without Borders, 16 April 2012, retrieved 21 March 2013
  6. ^ Artists Stephen Shanabrook and Veronika Georgieva with Saatchi and Saatchi for 25th anniversary campaign, 2010, for Reporters Without Borders en.rsf.org, including tv commercial youtube.com. The campaign was nominated for an award at 57th Cannes Lions International Advertising Festival canneslions.com
  7. ^ "Predators of Freedom of Information in 2013", Reporters Without Borders", 3 May 2013
  8. ^ "Who We Are?", Reporters Without Borders, 12 September 2012, retrieved 8 March 2013
  9. ^ "Reporters Without Borders, Laureate of the International Association of Press Clubs Award", Reporters Without Borders, 4 June 2013. Retrieved 2 January 2013.
  10. ^ “Roland Berger Human Dignity Award goes to Reporters Without Borders and Shirin Ebadi”. Reports Without Borders. 25 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012. 
  11. ^ "Ladies, Ibrahim and Reporters joint Sakharov prize winners", European Parliament, 27 June 2006
  12. ^ Volker Bräutigam: Reporter ohne Scham-Grenzen, 4/5/2006
  13. ^ Voltairenet.org: Reporters without Borders remembers (lately) Sami Al Haj, 2 tháng 3 2006
  14. ^ Salim Lamrani: Reporters without Borders Keeps silence about journalist tortured in Guantánamo, Voltairenet.org, 7 tháng 2 2006

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]