Kì tích sông Hán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng gần như liên tục từ mức gần như không có gì đến mức ngàn tỷ đô la Mỹ trong chưa đầy một nửa thế kỷ.

Hán giang kỳ tích (Hangul: 한강의 기적 Hangangeui Kijeok), nhiều báo chí ở Việt Nam thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn, là cụm từ đề cập tới thời kỳ tăng trưởng kinh tế do xuất khẩu mang lại, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh chóng, thành tự công nghệ to lớn, sự phát triển nhanh chóng về chất lượng giáo dục, sự tăng lên nhanh chóng của mức sống và quá trình đô thị hóa nhanh, bùng nổ xây dựng cao ốc, tiến trình dân chủ hóa và toàn cầu hóa nhanh đã chuyển Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc Chiến tranh Triều Tiên thành một quốc gia phát triển và thịnh vượng với GDP cán mốc 1000 tỷ USD cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như Samsung, LG and Hyundai-Kia.[1]

Đặc thù hơn, cụm từ này dùng để đề cập sự phát triển của thủ đô Seoul, thành phố có sông Hán chảy qua. Cụm từ này có nguồn gốc từ "Kỳ tích sông Rhine" dùng để mô tả sự hồi sinh kinh tế của Tây Đức sau thế chiến 2, có được một phần nhờ kế hoạch Marshall. Cụm từ "kỳ tích" được sử dụng để mô tả sự tăng trưởng của Hàn Quốc hậu chiến tranh thành quốc gia có GDP danh nghĩa lớn thứ 13 thế giới và một hình mẫu cho nhiều nước đang phát triển,[2] điều mà nhiều người coi là không thể thực hiện vào thời điểm đó. Hạ tầng của Seoul đã bị cuộc chiến tranh Triều Tiên phá hủy và hàng triệu người phải sống trong nghèo khó vào thời điểm đó. Chưa tới 4 thập niên sau, thành phố "vô vọng" này đã hoàn toàn chuyển thành một thành phố toàn cầu, một trung tâm kinh doanhthương mại lớn ở châu Á có hạ tầng công nghệ thuộc hàng tiên tiến nhất trên thế giới.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://koreatimes.co.kr/www/news/nation/2009/10/116_54174.html
  2. ^ http://koreatimes.co.kr/www/news/nation/2009/07/113_48292.html