Kì tích sông Hán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng gần như liên tục từ mức gần như không có gì đến mức ngàn tỷ đô la Mỹ trong chưa đầy một nửa thế kỷ, từ năm 1960 đến 2007.
Hình chụp bán đảo Triều Tiên qua vệ tinh vào ban đêm, cho thấy sự khác biệt rất lớn trong mức tiêu thụ năng lượng giữa Bắc Triều TiênHàn Quốc.

Hán giang kỳ tích (tiếng Hàn: 한강의 기적 - Hangangeui Kijeok), nhiều cơ quan truyền thôngViệt Nam thường gọi nhầm là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn (do nhầm chữ Hán trong sông Hán (Hangul: 한강Hanja: 漢江), thành chữ Hàn trong Đại Hàn Dân Quốc (Hangul: 대한민국; Hanja: 大韓民國)), là cụm từ đề cập tới thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ, liên tục về kinh tế do xuất khẩu mang lại, là quá trình công nghiệp hóahiện đại hóa nhanh chóng, nhiều thành tựu nghiên cứu khoa học - công nghệ to lớn, sự phát triển toàn diện về chất lượng giáo dục[1], sự tăng trưởng của mức sống và quá trình đô thị hóa, sự bùng nổ trong việc xây dựng các tòa nhà chọc trời, những tuyến đường cao tốc kết nối các thành phố lớn[2], tiến trình dân chủ hóatoàn cầu hóa đạt hiệu quả cao đã chuyển mình, lột xác toàn bộ đất nước Hàn Quốc từ một đống tro tàn của cuộc Chiến tranh Triều Tiên tàn khốc – trở thành một quốc gia phát triển và thịnh vượng với tổng sản phẩm nội địa (GDP) cán mốc 1.000 tỷ USD, đồng thời xuất hiện nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn mạnh, nổi tiếng trên toàn cầu như Samsung, LG, LotteHyundai cũng như việc đăng cai tổ chức thành công các sự kiện thể thao lớn như Olympic Mùa hè 1988FIFA World Cup 2002.[3]

Đặc thù hơn, cụm từ này dùng để đề cập sự phát triển của thủ đô Seoul, thành phố có dòng sông Hán chảy qua. Cụm từ này có nguồn gốc từ "Kỳ tích sông Rhine" - dùng để mô tả sự hồi sinh kinh tế mạnh mẽ của Tây Đức sau Thế chiến 2, có được một phần nhờ vào kế hoạch Marshall của chính phủ Hoa Kỳ. Cụm từ "kỳ tích" được sử dụng để mô tả sự tăng trưởng mạnh mẽ của Hàn Quốc thời kỳ hậu chiến tranh trở thành quốc gia có GDP danh nghĩa lớn thứ 11 trên thế giới và một hình mẫu tiêu biểu cho các nước đang phát triển học tập,[4] điều mà nhiều người coi là không thể thực hiện vào thời điểm đó. Sau chiến tranh Triều Tiên, cơ sở hạ tầng của Seoul đã bị cuộc chiến này phá hủy gần như hoàn toàn và hàng chục triệu người Hàn Quốc phải sống dưới mức nghèo khổ vào thời điểm đó. Chưa đầy 4 thập niên sau, "thành phố vô vọng" này đã hoàn toàn chuyển mình thành một thành phố toàn cầu quan trọng, một trung tâm tài chính, kinh doanhthương mại lớn ở châu Á, nơi có cơ sở hạ tầng khoa học - công nghệchất lượng môi trường thuộc hàng tiên tiến bậc nhất trong khu vực Đông Á nói riêng trên thế giới nói chung.[5]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Tướng Park Chung Hee nắm quyền vào năm 1961, Hàn Quốc đã có một thu nhập bình quân đầu người ít hơn $80 USD mỗi năm. Trong thời gian đó, Hàn Quốc chủ yếu là phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ để đổi lấy sự tham gia của Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam.[6][7] Phong trào Saemaeul (còn gọi là Phong trào cộng đồng cư dân mới) của Chính phủ tập trung vào phát triển vùng nông thôn Hàn Quốc[8]. Các nhà lãnh đạo quyết đoán và các kế sách mạnh mẽ của Chính phủ (mặc dù bị chỉ trích là sử dụng áp đặt và nặng tay) kết hợp với hiệu quả của lao động giá rẻ, đã phục vụ như là một chất xúc tác cho nền kinh tế Hàn Quốc.[9]

Tổng thống thứ ba của Hàn QuốcPark Chung Hee là người có công rất lớn đối với "Kỳ tích sông Hán".

Trong vòng chưa đầy bốn thập kỷ, Seoul đã trở thành một thành phố toàn cầu, một trung tâm kinh doanhthương mạiĐông Bắc Á và một trung tâm kinh tế phát triển cao trên thế giới, tạo nền móng cho các cơ sở hạ tầng công nghệthông tin liên lạc tiên tiến. Hàn Quốc luôn xem xét tăng trưởng nhanh chóng này là biểu tượng của niềm tự hào quốc giatự lập. Bên cạnh phong trào Saemaeul, chính phủ Hàn Quốc còn thực hiện một kế hoạch phát triển kinh tế táo bạo và hiệu quả được gọi là Kế hoạch năm năm. Có hơn 5 kế hoạch được tạo ra, và chúng được thiết kế để vực dậy nền kinh tế. Mỗi kế hoạch trong số đó đã góp phần lớn vào quá trình công nghiệp hóa và mở rộng ra các thị trường của Hàn Quốc.

Sự phát triển dưới thời Park Chung Hee (1961–1979)[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu Olympic bắc qua sông Hán tại Seoul. Sự phát triển cơ sở hạ tầng, cao ốc và đường sá là những biểu hiện rõ nét nhất của "Kì tích sông Hán".

Một trong những nhân vật quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn nhất đối với "Kỳ tích sông Hán" là Park Chung Hee, tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc. Dưới chính quyền của Park Chung Hee, Hàn Quốc nhanh chóng phục hồi kinh tế thành công. Park Chung Hee đề ra Kế hoạch Phát triển Kinh tế 5 năm nhằm thúc đẩy phát triển tài nguyên quốc gia để biến Hàn Quốc thành một nước công nghiệp tự cung. Điều này đã giúp người dân Nam Hàn có động lực để tiến tới những thành công kinh tế sau này.[10] Khẩu hiệu mới của Tổng thống Park: "Đối xử với công nhân như gia đình", được cho là đã giúp công nhân lao động Hàn Quốc làm việc với năng suất gấp hơn 2,5 lần so với công nhân của Hoa Kỳ, mặc dù mức lương của công nhân Nam Hàn chỉ bằng một phần mười của công nhân Hoa Kỳ.[6]

Mặc dù nhiều người dân Nam Hàn ca ngợi Park Chung Hee như người đã có công với nền kinh tế nước nhà, một số khác chỉ trích ông vì những chế độ độc tài quân sự dưới thời ông nắm quyền.[10] Sau cuộc đảo chính những năm 1960, Park Chung Hee là thiết lập nên một chế độ chuyên chếđộc đảng, chỉ duy nhất một đảng nắm quyền. Những người bị cho là "chống chế độ" bị kết án tù và bị đàn áp dã man.[11] Sau này đến cuối những năm 1980, Hàn Quốc mới áp dụng chế độ dân chủ.

Các tập đoàn đa quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chaebol

Các tập đoàn đa quốc gia tại Hàn Quốc (gọi là Chaebol) có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hàn Quốc. Các chaebol lớn ở Hàn Quốc hiện nay bao gồm Samsung, Daewoo, Hyundai, LG, SKLotte. Chỉ tính riêng trong năm 2003, tổng kim ngạch xuất khẩu của bốn tập đoàn lớn là Daewoo, Huyndai, LG và SK lên tới hơn 120 tỷ USD, tương đương 58% tổng giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc, chiếm một phần ba tổng giá trị tư bản của thị trường. Nhờ những tập đoàn trên, Hàn Quốc lột xác từ một nước nghèo đói, lạc hậu trở thành một quốc gia công nghiệp phát triển. Đến thập niên 1990, Hàn Quốc trở thành một trong những nước công nghiệp mới lớn nhất, kéo theo đó là sự phát triển của chất lượng cuộc sống, y tế, giáo dục... vượt trội hơn hẳn so với các quốc gia phát triển ở châu Âu.[12] Hiện nay, Hàn Quốc cùng với ba vùng lãnh thổ khác là Hồng Kông, Đài LoanSingapore trở thành Bốn con Rồng châu Á với tổng sản phẩm nội địa (GDP) và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Mẫu hình phát triển kinh tế của Hàn Quốc cũng được coi là một mô hình đáng học hỏi cho các quốc gia đang phát triển.[13]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Giáo dục và tốc độ – Động lực thành công của Hàn Quốc”. https://thongtinhanquoc.com/. 
  2. ^ “Gyeongbu - cao tốc được làm bằng ý chí của người Hàn”. https://vnexpress.net/. 
  3. ^ “Park Chung-hee Admired for Making Something Out of Nothing”. The Korea Times. Truy cập 2 tháng 10 năm 2015. 
  4. ^ “S. Korea Is a Role Model for Africa: Obama”. koreatimes. Truy cập 2 tháng 10 năm 2015. 
  5. ^ “Hàn Quốc: Hóa rồng, Độc tài và Dân chủ”. https://thongtinhanquoc.com/. 
  6. ^ a ă Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun: a Modern History. New York: Norton, 2005. Print.
  7. ^ Korea: A Century of Change By Jürgen Kleiner
  8. ^ “Saemaul Undong – Phong trào đổi mới nông thôn ở Hàn Quốc”. https://thongtinhanquoc.com/. 
  9. ^ “5 điều chưa biết về mục tiêu xây dựng kinh tế Hàn Quốc của Park Chung Hee”. https://thongtinhanquoc.com/. 
  10. ^ a ă Ch'oe, Yong-ho, Peter H. Lee, and Wm. Theodore de Bary “Politics and Economy in South Korea” Sources of Korean Tradition Volume II: From the Sixteenth to the Twentieth Centuries. Đại học Columbia, 2006. Trang 370–373.
  11. ^ “World Politics - The Rise of Bureaucratic Authoritarian System in South Korea”. Đại học Cambridge. Truy cập 20 tháng 10 năm 2015. 
  12. ^ Savada, Andrea Matles. South Korea: A Country Study. trang 152.
  13. ^ “Can Africa really be like Korea?” (bằng tiếng Anh). Afrol News.