Âm nhạc Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Diễu hành nhạc truyền thống ở Seoul.

Nhạc truyền thống Triều Tiên bao gồm nhạc dân tộc, thanh nhạc, tôn giáo và phong cách âm nhạc nghi lễ của người Triều Tiên. Nhạc Triều Tiên, cùng với nghệ thuật, tranh vẽ và điêu khắc được hình thành từ thời tiền sử.[1] Hai sự khác biệt văn hoá âm nhạc tồn tại ở Triều Tiên ngày nay là: nhạc truyền thống (Gugak) và nhạc phương Tây (yangak).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền–Tam quốc Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc truyền thống Triều Tiên của thời tiền-tam quốc không được biết đến nhiều, trong khi một số ghi chép lịch sử của Trung Quốc viết rằng người của Phù Dư, Cao Câu Ly, Đông UếTam Hàn đã uống và nhảy múa trong mùa thu hoạch. Một số văn bản còn nói rằng bộ tộc Triều Tiên có thói quen cúng trời đất, nhảy múa và uống nhiều ngày như một nghi lễ nông sản.[2]

Tam Hàn[sửa | sửa mã nguồn]

Các bản ghi chép lâu đời nhất về âm nhạc Triều Tiên xuất hiện trong văn bản lịch sử Trung Quốc, Tam quốc chí được viết bởi Trần Thọ (233-297). Nó nói rằng người Mã Hàn thực hiện nghi thức vào tháng năm và tháng mười không nhảy múa trong vài ngày. Triều Tiên vương triều thực lục trong suốt thời Triều Tiên Thế Tông nói rằng Tam Hàn có một phong cách âm nhạc riêng nhưng không có nhạc cụ.[3]

Tam quốc Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Câu Ly[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử âm nhạc của Cao Câu Ly chủ yếu chia thành ba giai đoạn: đầu tiên là giai đoạn trước khi bị ảnh hưởng từ bên ngoài khi geomungo, một nhạc cụ truyền thống được phát minh.;[4] thứ hai là khoảng thế kỉ thứ 4 đến thế kỉ thứ 6 khi Cao Câu Ly bắt đầu thiết lập mối quan hệ với Bắc Nguỵ; giai đoạn sau cùng là cuối thế kỉ 6 cho đến sau khi vương quốc sụp đổ

Hwangjoga (Hangul황조가; Hanja黃鳥歌) là một bài hát từ Cao Câu Ly sáng tác bởi vua Lưu Ly. Bài hát nói về một công chúa mang tình cảm của mình trao cho ông.[5]

Theo Tam quốc sử ký (Niên sử của tam quốc), được viết vào năm 1145, geomungo được phát minh bởi tướng Wang San-ak được sử dụng như các nhạc cụ cổ đại Trung Quốc Cố cầm (còn được gọi là chilhyeongeum, nghĩa là "đàn bảy dây"). Sau khi ông mất, nhạc cụ được truyền lại cho Ok Bogo, Son Myeong-deuk, Gwi Geum, An Jang, Cheong Jang, và Geuk Jong, khi được lan truyền rộng rãi truyền toàn quốc.

Nguyên mẫu của nhạc cụ được vẽ trong lăng Cao Câu Ly. Họ tìm thấy trong lăng của Muyongchong và lăng mộ Anak thứ 3.

Bách Tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc duy nhất của Bách Tế được truyền lại cho đến bây giờ là Jeongeupsa (hangul: 정읍사), nhưng vì không có những di tích cụ thể như những bức tranh trong lăng mộ của Cao Câu Ly, nên rất khó khăn để hiểu được nó như thế nào. Hiển nhiên rằng Bách Tế cũng tổ chức lễ hội thu hoạch vào tháng năm và tháng mười giống như Cao Câu Ly.[6]

Âm nhạc của Bách Tế đã được biết đến Nam TốngBắc Nguỵ, trong khi một số người trình bày được mời đến Nhật Bản.[7] Đáng chú ý, một người đàn ông của Bách Tế tên là Mimaji (hangul: 미마지) đã học nhạc và múa ở Trung Quốc và di cư đến Nhật Bản vào năm 612.[8][9] Vào năm 2001, hoàng đế Nhật Bản Akihito đã nói rằng âm nhạc của Bách Tế là nguồn gốc của nhạc hoàng gia Nhật Bản, vì Thiên hoàng Kanmu (871-896) là hậu duệ của vua Vũ Ninh. (r.501-523).[7]

Tân La[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo tàng Ureuk ở Goryeong, Gyeongssangbuk-nơi mà cho thấy âm nhạc phát triển ở Già Da và Tân La.

Trước khi Tân La thống nhất tam quốc, âm nhạc của Tân La được đại diện cho âm nhạc truyền thống, gayageum được người ta nói rằng Ureuk từ Già Da mang đến triều đại vua Chân Hưng khi vương quốc của ông đã liên kết với lực lượng Tân La. Mặc dù Samguk Sagi truyền tải 12 tên tác phẩm mà Ureuk đã làm, nhưng nó không được thừa hưởng đầy đủ. Vào năm thứ 13 của Chân Hưng, Ureuk đã dạy gayageum, bài hát và điệu múa cho ba đồ đệ Gyego, Beopji y Mandeok.[10]

Sau đó các học giả nổi tiếng, Thôi Trí Viễn (Hangul: Choe chiwon) người đã học ở nhà Đường tách biệt hệ thống cấp bậc hình xương của Tân La Silla luật ngũ thơ của hyangak (bài hát địa phương) miêu tả nghệ thuật biểu diễn ở Tân La vào cuối kỉ nguyên đó.[11]

Thời kì Nam-Bắc quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tân La thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đất nước thống nhất, âm nhạc của Tân La đã trải qua những dòng nhạc đa dạng từ Bách Tế và Cao Câu Ly với sự phát triển mạnh mẽ hơn hyangak, đặtc biệt là gayageum, geomungo, đàn tỳ bà.[12] Ngoài ra, âm nhạc từ nhà Đường được giới thiệu dưới triều đại của vua Văn Vũ. Thánh ca Phật giáo, Beompae (hangul:범패) được áp dụng rộng rãi với nhiều nhạc cụ, hình thành một nghẹ thuật độc đáo ở Tân La.[13][14] Trong suốt Tân La thống nhất, viện âm nhạc hoàng gia (hangul:음성서) được thành lập.[15]

Âm nhạc đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc là một môi trường sôi động với âm nhạc đương đại. Quốc gia đã sản xuất ra nhiều nhạc sĩ và ca sĩ quốc tế bao gồm PSY một trong những ca khúc của anh đã trở thành hiện tượng toàn cầu. Hơn nữa, một thể loại mới được gọi là K-pop (pop Hàn Quốc) cũng nổi lên vào những năm 1990 cho đến nay.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Triều Tiên – Tôn giáo và ý nghĩa văn hoá”. 
  2. ^ Don Michael Randel (2003). The Harvard Dictionary of Music. Harvard University Press. tr. 273. ISBN 0674011635. 
  3. ^ Royal Asiatic Society, Transactions of the Korea Branch of the Royal Asiatic Society, 48–51, tr. 7 
  4. ^ 《三國史記》 〈雜紙〉 1
  5. ^ Kim, Hung-gyu. “Tìm hiểu văn học Triều Tiên”. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  6. ^ Yoon, seoseok. “Festive Occasions: The Customs in Korea”. Google E-books. Đại học nữ sinh Ewha. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  7. ^ a ă Tudor, Daniel. “Korea: The Impossible Country”. Google ebooks. Tuttle Publishing. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  8. ^ Pratt, Keith. “Everlasting Flower: Lịch sử của Triều Tiên”. Reaktion Books. 
  9. ^ Harich-Schneider, Eta (1954). “The rhythmical Patterns in gagaku and bugaku. [Mit Illustr. u. Notenbeisp.]”. Ethno-Musicologica (Netherlands) 3: 10. 
  10. ^ Yi, Pyŏng-ok. “Korean folk dance”. Korea Foundation. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  11. ^ Elisseeff, Vadime. “The Silk Roads: Highways of Culture and Commerce”. Berghahn Books, 1998. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  12. ^ Elisseeff, Vadime. “The Silk Roads: Highways of Culture and Commerce”. Berghahn Books, 1998. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  13. ^ Randel, Michael. “The Harvard Dictionary of Music”. Harvard University Press, 2003. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  14. ^ Tokita, Alison; W. Hughes, David. “The Ashgate Research Companion to Japanese Music”. Ashgate Publishing, 2008. 
  15. ^ Wiet, Gaston (1975). “History of Mankind: The great medieval civilizations (2 v. in 4)”. History of Mankind: Cultural and Scientific Development. 2 Volumes in 4 (International Commission for a History of the Scientific and Cultural Development of Mankind): 763. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  • Provine, Rob, Okon Hwang, and Andy Kershaw (2000). "Our Life Is Precisely a Song". In Broughton, Simon and Ellingham, Mark with McConnachie, James and Duane, Orla (Ed.), World Music, Vol. 2: Latin & North America, Caribbean, India, Asia and Pacific, pp 160–169. Rough Guides Ltd, Penguin Books. ISBN 1-85828-636-0.
  • Thông tin chi tiết văn hoá Hàn Quốc. "Nghệ thuật truyền thống". Hàn Quốc. p 27. Tổng cục du lịch Hàn Quốc, 2007.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]