Chính phủ lâm thời Đại Hàn Dân Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chính phủ Lâm thời Đại Hàn Dân Quốc
대한민국 임시 정부
(大韓民國臨時政府)
Chính phủ lưu vong

1919–1948
Quốc kỳ Con dấu của Dân quốc
Khẩu hiệu
대한독립만세(大韓獨立萬歲)
Quốc ca
Ái quốc ca
Thủ đô Hán Thành (de jure)
37°32′B 126°59′Đ / 37,533°B 126,983°Đ / 37.533; 126.983
Thủ đô lưu vong Thượng Hải
Trùng Khánh
Ngôn ngữ Tiếng Triều Tiên, Tiếng Hoa
Chính quyền Cộng hòa tổng thống (1919-1925)
Cộng hòa đại nghị (1925-1940)
Cộng hòa tổng thống (1940-1948)
Tổng thống / Chủ tịch
 •  1919 - 1925 Lý Thừa Vãn
 •  1927 - 1933
và 1935 - 1940
Lý Đông Ninh
 •  1926 - 1927
và 1940 - 1948
Kim Cửu
Thủ tướng / Phó Chủ tịch
 •  1919 - 1921 Lý Đông Huy
 •  1924 - 1925 Phác Ân Thức
 •  1944 - 1945 Kim Khuê Thức
Lịch sử
 •  Kháng chiến 1 tháng 3, 1919
 •  Hiến pháp 11 tháng 4 1919
 •  Tuyên bố thành lập 13 tháng 4, 1919
 •  Sự kiện Công viên Hồng Khẩu 29 tháng 4, 1932
 •  Tuyên chiến 10 tháng 12, 1941
 •  Đế quốc Nhật Bản đầu hàng 15 tháng 8, 1945
 •  Đại Hàn Dân quốc thành lập 15 tháng 8 1948
Tiền tệ Won
Một phần của loạt bài về
Lịch sử Triều Tiên
Cung Gyeongbok, Seoul
Tiền sử
Thời kỳ Trất Văn (Jeulmun)
Thời kỳ Vô Văn (Mumun)
Cổ Triều Tiên ?–108 TCN
Vệ Mãn Triều Tiên 194–108 TCN
Tiền Tam Quốc 300–57 TCN
Phù Dư, Cao Câu Ly, Ốc Trở, Đông Uế
Thìn Quốc, Tam Hàn (, Biện, Thìn)
Tam Quốc 57 TCN–668
Tân La 57 TCN–935
Cao Câu Ly 37 TCN–668
Baekje (Bách Tế) 18 TCN–660
Già Da 42–562
Nam-Bắc Quốc 698–926
Tân La Thống Nhất 668–935
Bột Hải 698–926
Hậu Tam Quốc 892–936
Tân La, Hậu Bách Tế, Hậu Cao Câu Ly, Hậu Sa Bheor
Triều đại Cao Ly 918–1392
Triều đại Triều Tiên 1392–1897
Đế quốc Đại Hàn 1897–1910
Triều Tiên thuộc Nhật 1910–1945
Chính phủ lâm thời 1919 – 1948
Phân chia Triều Tiên 1945–nay
CHDCND Triều Tiên
Đại Hàn Dân Quốc
1948-nay
Theo chủ đề
Niên biểu
Danh sách vua
Lịch sử quân sự
Portal-puzzle.svg Chủ đề Triều Tiên

Chính phủ Lâm thời Đại Hàn Dân Quốc (tiếng Hàn: 대한민국임시정부; Daehan Minguk Imsi Jeongbu) là một chính phủ lưu vong được thành lập ngày 13 tháng 4 năm 1919. Phong trào 1 tháng 3 là một động lực đáng kể, thu hút tinh thần dân tộc trong giai đoạn Triều Tiên bị Nhật đô hộ. Cao điểm của phong trào này là chính phủ lâm thời, khai sinh tại Thượng Hải, Trung Hoa, hầu tổ chức công cuộc kháng Nhật khi Đế quốc Nhật Bản mở cuộc xâm lăng Mãn Châu. Phong trào độc lập vẫn được Hàn Quốc kỷ niệm vào 1 tháng 3 hàng năm, và đã được coi là ngày lễ toàn quốc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc Cách mạng Tân Hợi lật đổ nhà Thanh thì Trung Hoa rơi vào tình trạng bất ổn. Nhật Bản nhân đó muốn thúc đẩy Chính phủ Trung Hoa Dân quốc phải nhượng bộ để Nhật củng cố thuộc địa ở Viễn Đông. Triều Tiên đã bị thôn tính từ năm 1910 nhưng Nhật còn tham vọng dùng Triều Tiên làm bàn đạp lấn chiếm sang Mãn Châu.

Trước chính sách đồng hóa và phép cai trị hà khắc của thực dân Nhật, dân tình Triều Tiên ngày càng chán ghét người Nhật. Giới trí thức thì càng căm phẫn khi người Nhật ra lệnh cấm dạy tiếng Hàn ở trường. Ngày 1 tháng 3 năm 1919, dân chúng Triều Tiên tổ chức cuộc xuống đường phản đối thật quy mô trên phạm vi toàn quốc. Nhà chức trách Nhật phản ứng bằng cách trấn áp, khiến hàng nghìn người bị sát hại.

Dù thất bại, phong trào Độc lập mồng 1 tháng Ba đã tạo nên tiếng vang hun đúc tinh thần dân tộc và lòng yêu nước của người Triều Tiên. Theo gót phong trào này là chính phủ lâm thời Đại Hàn Dân quốc ra đời tại Thượng Hải để điều hành phong trào kháng Nhật, chống lại bước tiến của Nhật vào Mãn Châu Lý. Trung Quốc, một trong những quốc gia có căng thẳng với Nhật, đã đồng ý cho Chính phủ lâm thời được tồn tại và 2 Chính phủ đã cộng tác chung với nhau để chống lại Nhật Bản.

Về mặt đối ngoại chính phủ lâm thời Đại Hàn không được các cường quốc đương thời công nhận trừ chính phủ Trung Hoa Dân quốc. Hoạt động chính của chính phủ lâm thời là điều hợp các lực lượng võ trang chống Nhật suốt hai thập niên 19201930, trong đó có trận Chingshanli vào Tháng 10, 1920 và cuộc tấn công phái đoàn quân sự Nhật ở Thượng Hải vào Tháng 4, 1932. Đến năm 1940 thì chính phủ lâm thời cho thành lập Quân đội Giải phóng Triều Tiên tập hợp gần như tất cả các lực lượng Triều Tiên lưu vong. Ngày 9 Tháng 12, 1941 chính phủ lâm thời ra thông cáo tuyên chiến với phe Trục và điều binh chặn đánh quân Nhật ở Trung Hoa và Đông Nam Á. Quân đội Giải phóng Triều Tiên còn mở đường dây hợp tác với Cơ quan Tình báo chiến lược (OSS) của Hoa Kỳ nhưng kế hoạch bàn thảo chưa thực hiện được thì Đế quốc Nhật Bản tuyên bố đầu hàng phe Đồng minh ngày 2 Tháng 9, 1945.

Nước Triều Tiên sau đó bị Hoa KỳLiên Xô chiếm đóng; chính phủ lâm thời Đại Hàn Dân quốc ngưng hoạt động, nhường chỗ cho hai chính thể mới: Đại Hàn Dân quốc ở miền Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở miền Bắc.

Trụ sở hoạt động của chính phủ lâm thời tại Thượng HảiTrung Kinh nay được lưu giữ là viện bảo tàng.

Trong Thế chiến II[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ lâm thời Hàn Quốc đã đóng vai trò không nhiều, song thiết thực trong cuộc chiến chống lại Nhật Bản. Khi Đế quốc Nhật đem quân xâm lược Trung Quốc toàn diện, làm nổ ra cuộc Chiến tranh Trung-Nhật, người dân Triều Tiên đã cùng nhau đứng về Trung Quốc.

Do có hàng triệu người gốc Triều Tiên bị sát hại hoặc làm nô lệ tình dục cho lính Nhật, rất nhiều người Triều Tiên đã bắt liên lạc với Chính phủ lâm thời, và phần nhiều đã bí mật tham gia Hàn Quốc Quang phục Quân, mặc dù phần đông trong số đó đã tham gia lực lượng vũ trang Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch. Chính phủ lâm thời đã cung cấp tài chính, vũ khí, sĩ quan và chiến lược chiến đấu chống quân Nhật Bản, đồng thời kêu gọi Đồng minh hiệp lực đánh Nhật Bản.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]