Kinh tế Singapore

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh tế Singapore
Tiền tệ Đô la Singapore (SGD)
Năm tài chính 1 tháng 4 - 31 tháng 3
Tổ chức kinh tế WTO, APEC
Số liệu thống kê
GDP 296.1 tỷ USD (danh nghĩa, 2015)
470.551 tỷ USD (PPP, 2015)
Tăng trưởng GDP -4.6% (2015)
GDP đầu người 85,127 SGD (2014)
GDP theo lĩnh vực Nông nghiệp: 0%, công nghiệp: 25%, dịch vụ: 75% (2014)
Lạm phát (CPI) 1% (2014)
Tỷ lệ nghèo N/A
Lực lượng lao động 3,6275 triệu (2015)
Cơ cấu lao động theo nghề Nông nghiệp: 1.3%, công nghiệp: 14.8%, dịch vụ: 83.9% (2014)
Thất nghiệp 2% (2015.)
Các ngành chính điện tử, hóa chất, dịch vụ tài chính, thiết bị khoan dầu, lọc dầu, sản xuất và chế tạo cao su, chế biến thức ăn, sửa chữa tàu, khoa học
Thương mại quốc tế
Xuất khẩu 518.922 tỉ SGD (2014)
Mặt hàng XK máy móc và thiết bị (gồm cả đồ điện tử), hàng tiêu dùng, hóa chất, dầu mỏ
Đối tác XK  Malaysia 12.2%
 Trung Quốc 11.8%
 Hồng Kông 11.2%
 Indonesia 9.9%
 Hoa Kỳ 5.8%
 Nhật Bản 4.3%
 Hàn Quốc 4.1% (2013)
Nhập khẩu 463.779 tỉ SGD (2006)
Mặt hàng NK máy móc và thiết bị, dầu mỏ, hóa chất, thực phẩm
Đối tác NK  Trung Quốc 11.7%
 Malaysia 10.9%
 Hoa Kỳ 10.4%
 Hàn Quốc 6.4%
 Nhật Bản 5.5%
 Indonesia 5.2%
 UAE 4.4% (2013)
Tài chính công
Nợ công 103.2% của GDP (2014)
Thu 659.9954 tỉ SGD (2014)
Chi 56.6482 tỉ SGD (2014 est.)
Viện trợ 250.4 tỉ USD (31 tháng 8, 2015)
Nguồn dữ liệu: CIA.gov
Tất cả giá trị đều tính bằng đô la Mỹ, trừ khi được chú thích.

Kinh tế Singapore là nền kinh tế phát triển, theo đường lối kinh tế tư bản. Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế được giảm thiểu tối đa. Singapore có môi trường kinh doanh mở, tham nhũng thấp, minh bạch tài chính cao, giá cả ổn định, và là một trong những nước có GDP bình quân đầu người cao nhất thế giới. xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng điện tửhóa chấtdịch vụ là nguồn cung cấp chính cho thu nhập kinh tế và mua được các nguồn tài nguyên thiên nhiênhàng chưa gia công mà trong nước không có. Do vậy có thể nói Singapore dựa hoàn toàn vào nền kinh tế mở bằng việc mua các hàng hóa chưa gia công và chế biến chúng để xuất khẩu. Singapore cũng có một hải cảng chiến lược, có thể cạnh tranh với các nước láng giềng để thực hiện các hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu. Thành phố hải cảng của Singapore là một trong những nơi bận rộn nhất trên thế giới, vượt xa Hong KongThượng Hải.[1] Thêm vào đó, thành phố hải cảng của Singapore có cơ sở hạ tầng tốt và lực lượng lao động có tay nghề cao nhờ các chính sách giáo dục của đất nước trong việc đào tạo kỹ nghề cho công nhân, nó cũng là nền tảng cho việc phát triển kinh tế của đất nước.

Ngày 14 tháng 2 năm 2007, chính phủ Singapore tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2006 là 7,9%, cao hơn ước ban đầu 7,7%.[2]

Xu hướng kinh tế vĩ mô[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là biểu đồ xu hướng GDP qua các năm của Singapore, tính theo giá thị trường ước tính bởi Quỹ Tiền tệ Thế giới.

Năm Tổng sản phẩm quốc nội (triệu USD) Tỷ giá hối đoái (USD/SGD)
1980 25.117 2,14
1985 39.036 2,20
1990 66.778 1,81
1995 119.470 1,41
2000 159.840 1,72
2005 194.360 1,64
2007 224.412 1,51

Để tính toán và so sánh theo sức mua tương đương, có thể lấy 1 USD = 1,56 SGD (đô la Singapore).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Singapore Banks on Its Port”. Truy cập 16 tháng 9 năm 2015. 
  2. ^ “Singapore's economy grows by 7.7% in 2006”. Channel NewsAsia. 31 December 2006.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp) By Dominique Loh.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]