Hải quân Hoàng gia Úc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Royal Australian Navy
Tập tin:2002 RAN badge.jpg
Thành lập1911
Quốc giaAustralia
Phân loạiHải quân
Quy mô13,650 quân nhân thường trực[1]
2,925 quân nhân dự bị[1]
46 tàu đang vận hành
3 tàu dự bị
Bộ phận củaLực lượng Quốc phòng Úc
Tổng hành dinhRussell Offices, Canberra
Khẩu hiệuPhục vụ tổ quốc với niềm tự hào
Hành khúcRoyal Australian Navy
Lễ kỷ niệm10 tháng 7
Tham chiến
Websitewww.navy.gov.au
Các tư lệnh
Tổng tư lệnhElizabeth II, đại diện cho David Hurley
(Toàn quyền Úc)
Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng ÚcĐại tướng Angus Campbell
Phó tư lệnh Lực lượng Quốc phòng ÚcPhó đô đốc David Johnston
Tham mưu trưởngPhó đô đốc Michael Noonan
Phó tham mưu trưởngChuẩn đô đốc Mark Hammond
Chỉ huy hạm độiChuẩn đô đốc Jonathan Mead
Huy hiệu
Cờ hiệu (1967–nay)Naval Ensign of Australia.svg
Cờ hiệu (1911–1967)Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Quân kỳFlag of Australia (converted).svg
Phi cơ sử dụng
Trinh sátSikorsky SH60 Seahawk
Huấn luyệnEurocopter EC135
Vận tảiNHIndustries NH90

Hải quân Hoàng gia Úc (Royal Australian Navy,viết tắt:RAN) là nhánh hải quân của Lực lượng Quốc phòng Úc. Sau khi Liên bang hóa Úc vào năm 1901, các tàu và nguồn lực của hải quân thuộc địa riêng biệt được hợp nhất thành một lực lượng quốc gia, được gọi là Lực lượng Hải quân Khối thịnh vượng chung. Ban đầu được thiết kế để phòng thủ địa phương, hải quân được phong là 'Hải quân Hoàng gia Úc' vào năm 1911, và ngày càng trở nên có trách nhiệm trong việc phòng thủ khu vực.

Hải đội Úc của Hải quân Hoàng gia Anh đã được chỉ định đến Úc và cung cấp hỗ trợ cho RAN. Chính phủ ÚcNew Zealand đã hỗ trợ tài trợ cho Hải đội Úc cho đến năm 1913, trong khi Bộ Hải quân cam kết duy trì cho Hải đội một sức mạnh ổn định. Hải đội Úc ngừng hoạt động vào ngày 4 tháng 10 năm 1913, khi tàu RAN tiến vào Cảng Sydney lần đầu tiên.

Hải quân Hoàng gia tiếp tục hỗ trợ khả năng phòng thủ ở Thái Bình Dương cho đến những năm đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau đó, sự mở rộng nhanh chóng trong thời chiến đã chứng kiến ​​việc mua lại các tàu mặt nước lớn và đóng nhiều tàu chiến nhỏ hơn. Trong thập kỷ sau chiến tranh, RAN đã mua một số lượng nhỏ tàu sân bay, chiếc cuối cùng đã ngừng hoạt động vào năm 1982.

Ngày nay, RAN bao gồm 46 tàu chính thức, 3 tàu dự bị và hơn 16.000 nhân viên. Hải quân là một trong những lực lượng hải quân lớn nhất và tinh vi nhất ở khu vực Nam Thái Bình Dương, với sự hiện diện đáng kể ở Ấn Độ Dương và các hoạt động trên toàn thế giới nhằm hỗ trợ các chiến dịch quân sự và sứ mệnh gìn giữ hòa bình. Tham mưu trưởng Hải quân hiện tại là Phó Đô đốc Michael Noonan.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Defence Annual Reports 2017-2018. Department of Defence. 2018. tr. 29.