Hợp đồng nô lệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Hợp đồng nô lệ (Hangul노예 계약; Hanja奴隸契約; Romajanoye gyeyak; Hán-Việt: nô lệ khế ước) ý chỉ một hợp đồng dài hạn và bất công giữa các thần tượng K-popcông ty quản lý của họ.[1][2]

Thực trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Khát khao được trở thành Thần tượng K-pop, khi còn là "thực tập sinh" họ đã phải ký hợp đồng với các công ty quản lý khi chỉ mới 12 hay 13 tuổi đầu.[3] Một công ty có thể mất đến 10 năm để chuẩn bị hành trang cho thực tập sinh ra mắt trên sân khấu, theo lời người đứng đầu trước kia của Hiệp hội Luật Giải trí Hàn Quốc.[2] Cả thực tập sinh và những thần tượng K-pop đã ra mắt về đặc thù sẽ phải sống trong ký túc xá, nơi mà công ty chủ quản kiểm soát chế độ ăn uống, đời sống tình cảm lẫn thái độ ứng xử của họ.[3][4] Theo các điều khoản của hầu hết các hợp đồng thì thực tập sinh và thần tượng K-pop đều bị yêu cầu phải hoàn trả cho công ty quản lý các chi phí học hát và nhảy, kho quần áo, phí sinh hoạt và các chi phí khác. Hệ quả là, các thần tượng K-pop có thể không có thu nhập đáng bao nhiêu.[1]

Nhiều nhóm nhạc K-pop thường mất nhiều năm để hòa vốn, và do đó không thể nhận được phần thu nhập nào tạo ra từ các ca khúc của mình cho đến khi các món nợ thực tập được trả hết. Ngoại lệ điển hình là các nhóm nhạc đến từ những công ty thuộc nhóm "Big 3" (Tam Đại) - SM Entertainment, YG EntertainmentJYP Entertainment. Thực tập sinh dưới trướng ba công ty này được trả thù lao ngay sau khi họ ra mắt và nói chung là không đến nỗi phải đối mặt với các khoản nợ thực tập, trừ khi họ rời đi trước khi hoàn thành bản hợp đồng.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Lucy Williamson (ngày 15 tháng 6 năm 2011). “The dark side of South Korean pop music”. BBC News (bằng tiếng Anh-Anh). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  2. ^ a ă Han Sang-hee (ngày 11 tháng 8 năm 2009). “Is There a Solution for Slave Contracts? (Có giải pháp nào đối với hợp đồng nô lệ hay không?)”. Thời báo Hàn Quốc (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  3. ^ a ă Sung So-young (ngày 20 tháng 10 năm 2014). “Why K-pop idols flee from their groups (Tại sao các thần tượng K-pop chạy trốn khỏi nhóm nhạc của họ)”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  4. ^ David Volodzko (ngày 25 tháng 4 năm 2016). “K-pop’s gross double standard for women”. Đài Phát thanh Công chúng Quốc tế (Public Radio International) (bằng tiếng Anh-Mỹ). Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2017. 
  5. ^ https://www.sbs.com.au/popasia/blog/2018/01/29/how-much-money-k-pop-idol-makes-according-former-k-pop-idol