New Delhi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
New Delhi
नई दिल्ली
—  Thành phố thủ đô  —
Theo chiều kim đồng hồ từ phía trên: Đền Hoa Sen, Lăng mộ Humayun, Connaught Place, Đền Akshardham, và Cổng Ấn Độ
Theo chiều kim đồng hồ từ phía trên: Đền Hoa Sen, Lăng mộ Humayun, Connaught Place, Đền Akshardham, và Cổng Ấn Độ
New Delhi trên bản đồ Ấn Độ
New Delhi
New Delhi
Tọa độ: 28°36′50″B 77°12′32″Đ / 28,61389°B 77,20889°Đ / 28.61389; 77.20889
Quốc gia Ấn Độ
Bang Delhi
Diện tích(chỉ tính địa giới)
 • Thành phố thủ đô 42,7 km2 (165 mi2)
Độ cao 216 m (709 ft)
Dân số (2011)[1]
 • Thành phố thủ đô 249.998
 • Mật độ 5,855/km2 (15,160/mi2)
 • Vùng đô thị 13.850.507
Múi giờ IST (UTC+5:30)
Mã ZIP 110xxx
Thành phố kết nghĩa Sydney, Luân Đôn, Kuala Lumpur, Ulaanbaatar, Fukuoka, Yerevan, Manila, Beograd, Chicago, Washington, Tokyo, Seoul, Moskva sửa dữ liệu
Trang web www.ndmc.gov.in

New Delhi ( /ˌnj ˈdɛli/)[2][3] là thủ đô của Ấn Độ và là một trong 11 quận của Delhi.

George V đặt viên đá nền tảng cho thành phố tại lễ đăng cơ năm 1911.[4] Thành phố do các kiến trúc sư người Anh thiết kế, cụ thể là Edwin Lutyens và Herbert Baker. Thủ đô mới được Phó vương Ấn Độ Edward Wood khánh thành vào ngày 13 tháng 2 năm 1931,[5].

Mặc dù về thông tục Delhi và New Delhi là các danh xưng được sử dụng thay thế cho nhau để chỉ phạm vi quyền hạn của Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi, song chúng là các thực thể riêng biệt, do New Delhi là một bộ phận nhỏ của Delhi.

New Delhi được chọn làm một trong hàng trăm thành phố tại Ấn Độ phát triển thành thành phố thông minh theo dự án của Thủ tướng Narendra Modi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi tiếp kiến Delhi năm 1911, Quốc vương George V và Vương hậu Mary ngồi trên đài.

Delhi đóng vai trò là trung tâm chính trị và tài chính của một số đế quốc thời Ấn Độ cổ đại và của Vương quốc Hồi giáo Delhi, đặc biệt là thủ đô của Đế quốc Mogul từ năm 1649 đến năm 1857. Đầu thập niên 1900, có một đề xuất cho chính quyền Anh về việc dời thủ đô của Đế quốc Ấn Độ thuộc Anh từ Calcutta tại bờ biển phía đông đến Delhi.[6] Chính phủ Ấn Độ thuộc Anh cảm thấy rằng sẽ dễ dàng hơn về hậu cần khi cai quản Ấn Độ từ Delhi vì nó có vị trí tại trung tâm của miền bắc Ấn Độ.[6]

Vùng đất để xây dựng thành phố mới Delhi thu được theo Đạo luật Trưng dựng Đất 1894.[7]

Ngày 12 tháng 12 năm 1911, trong Buổi tiếp kiến Delhi, George V với thân phận Hoàng đế Ấn Độ cùng với phu nhân là Mary tuyên bố[8][9] rằng thủ đô của Đế quốc chuyển từ Calcutta đến Delhi, trong khi đặt viên đá nền tảng cho dinh thự của phó vương tại Coronation Park, Kingsway Camp.[10][11] Viên đá nền tảng[12] của New Delhi được hai người đặt tại địa điểm diễn ra Buổi tiếp kiến Delhi tại Kingsway Camp vào ngày 15 tháng 12 năm 1911, trong chuyến công du của họ. Phần lớn New Delhi do Edwin Lutyens và Herbert Baker đặt kế hoạch, họ là các kiến trúc sư người hàng đầu thế kỷ 20.[13] Hợp đồng được trao cho nhà thầu Sobha Singh. Công tác xây dựng thực sự bắt đầu sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và hoàn thành vào năm 1931. Thanh phố sau đó được gán tên là "Delhi của Lutyens" và được Phó vương Edward Wood khánh thành trong loạt buổi lễ từ ngày 10 tháng 2 năm 1931.[14] Lutyens thiết kế khu vực hành chính trung tâm của thành phố như một chứng tích cho khát vọng đế quốc của Anh.[15][16]

Ngay sau đó Lutyens bắt đầu cân nhắc đến các địa điểm khác, Ủy ban Kế hoạch Delhi Town lập kế hoạch thủ đô đế quốc mới, do George Swinton làm chủ tịch và John A. Brodie cùng Lutyens làm thành viên, trình báo cáo về cả hai địa điểm Bắc và Nam. Tuy nhiên, nó bị Phó vương bác bỏ do chi phí. Trục trung tâm của New Delhi nay nằm về phía đông của cổng Ấn Độ trước đó được dự tính là trục bắc-nam liên kết Dinh Phó vương ở một đầu đến Paharganj tại đầu kia. Trong những năm đầu của dự án, nhiều du khách cho rằng đó là một cổng từ Trái Đất đến Thiên đường.[17] Cuối cùng, do không gian hạn chế và hiện diện một lượng lớn địa điểm di sản tại phía bắc, ủy ban quyết định tại điểm phía Nam.[18] Một điểm trên đồi Raisina được chọn để xây Rashtrapati Bhawan, khi đó gọi là Dinh Phó vương. Nguyên nhân của sự lựa chọn này là đồi nằm trực diện với thành Dinapanah, vốn cũng được xem như địa điểm kinh đô Indraprastha cổ đại. Sau đó, viên đá nền tàng được chuyển từ địa điểm Buổi tiếp kiến Delhi năm 1911-1912 để gắn vào tường của sân trước Tòa nhà Thư ký. Rajpath, còn gọi là King's Way, trải dàu từ cổng Ấn Độ đến Rashtrapati Bhawan. Tòa nhà Thư ký có hai khối nằm bên sườn Rashtrapati Bhawan và là nơi làm việc của các bộ trưởng trong Chính phủ Ấn Độ, nó và trụ sở của Nghị viện đều do Herbert Baker thiết kế, nằm trên phố Sansad Marg.

Tại phía nam, vùng đất cho đến lăng mộ Safdarjung được giành cho hình thành nơi mà nay gọi là Lutyens' Bungalow Zone.[19] Trước khi có thể bắt đầu xây dựng trên các chỏm đá của đồi Raisina, một đường sắt vòng quanh Tòa nhà Hội đồng (nay là Tòa nhà Nghị viện) mang tên Imperial Delhi Railway, được xây dựng để vận chuyển vật liệu và nhân công xây dựng trong vòng hai mươi năm sau đó. Trở ngại cuối cùng là tuyến đường sắt Agra-Delhi do cắt ngay qua địa điểm được đánh dấu để xây Đài kỷ niệm Chiến tranh Toàn Ấn có hình lục giác (cổng Ấn Độ) và Kingsway (Rajpath), vấn đề là do Ga Delhi cũ khi đó phục vụ toàn bộ thành phố. Tuyến đường được chuyển sang chạy dọc sông Yamuna, và bắt đầu hoạt động vào năm 1924. Ga đường sắt New Delhi khánh thành vào năm 1926 với một sân ga duy nhất tại cổng Ajmeri gần Paharganj.[20][21] Do quá trình xây dựng Dinh Phó vương (nay là Rashtrapati Bhavan), Tòa nhà Thư ký Trung tâm, Tòa nhà Nghị viện, và Đài tưởng niệm chiến tranh Toàn Ấn (cổng Ấn Độ) thoải mái về thời gian, công trình xây dựng một khu mua sắm và một quảng trường mới, Connaught Place, bắt đầu vào năm 1929 và hoàn thành vào năm 1933. Công trình được đặt tên theo Hoàng tử Arthur, Công tước xứ Connaught (1850–1942), và do Robert Tor Russell thiết kế, kiến trúc sư trưởng của Ban Công trình Công cộng (PWD).[22]

Sau khi thủ đô Ấn Độ chuyển đến Delhi, một tòa nhà thư ký tạm thời được xây dựng trong một vài tháng vào năm 1912 tại Bắc Delhi. Hầu hết quan chức chính phủ của thủ đô mới chuyển đến đây từ 'Old secretariat' tại Old Delhi (tòa nhà nay là trụ sở của Hội đồng Lập pháp Delhi), một thập niên trước khi thủ đô mới khánh thành vào năm 1931. Nhiều nhân công được đưa đến thủ đô mới từ các nơi xa tại Ấn Độ như bang Bengal và bang Madras. Sau đó, nhà ở cho họ phát triển quanh khu vực Gole Market trong thập niên 1920.[23] Xây dựng trong thập niên 1940 để làm nơi ở cho các nhân viên chính phủ, với các bungalow (nhà gỗ một tầng) cho quan chức cao cấp tại khu vực Lodhi Estate lân cận, Lodhi colony gần Lodhi Gardens lịch sử, là khu nhà ở cuối cùng được xây dựng trong thời Anh thuộc.[24]

Hậu độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Rashtrapati Bhavan là trụ sở của Tổng thống Ấn Độ.

Sau khi Ấn Độ giành độc lập vào năm 1947, New Delhi được ban cho quyền tự trị hạn chế và do một ủy viên trưởng quản lý, người này do chính phủ Ấn Độ bổ nhiệm. Năm 1956, Delhi được chuyển thành lãnh thổ liên bang và cuối cùng ủy viên trưởng được thay bằng phó thống đốc. Đạo luật Hiến pháp năm 1991 bày tỏ rằng Lãnh thổ Liên bang Delhi chính thức được gọi là Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi.[25] Một hệ thống được triển khai mà theo đó chính phủ tuyển cử được trao quyền lực lớn, ngoại trừ pháp luật và sắc lệnh vẫn thuộc về chính phủ trung ương. Việc thi hành thực tế pháp luật đến vào năm 1993.

Lần mở rộng lớn đầu tiên của New Delhi ra ngoài Lutyens' Delhi là trong thập niên 1950 khi Ban Công trình Công cộng Trung ương (CPWD) phát triển một khu vực đất lớn ở phía tây nam của Lutyens' Delhi nhằm hình thành khu ngoại giao tách rời Chanakyapuri, đất tại đây được giao cho các đại sứ quán, cao ủy và dinh thự của các đại sứ, quanh đại lộ Shanti Path.[26]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

New Delhi có diện tích là 42,7 km2 (16,5 sq mi), là một bộ phận nhỏ của khu vực đô thị Delhi.[27] Do thành phố nằm trên đồng bằng Ấn-Hằng, nên có ít khác biệt về độ cao trên địa bàn. New Delhi và các khu vực xung quanh từng là bộ phận của dãy núi Aravalli; những gì còn lại của dãy núi này là rặng Delhi, nơi này còn được gọi là lá phổi của Delhi. New Delhi nằm trên bãi bồi của sông Yamuna, song về cơ bản nó là một thành phố nội lục. Phía đông của sông là một khu vực đô thị Shahdara. New Delhi nằm trong đới địa chấn IV, do vậy có thể bị động đất tấn công.[28]

New Delhi nằm trên một số đường đắt gãy và do đó từng trải qua các trận động đất thường xuyên, hầu hết có cường độ nhẹ. Tuy nhiên, số trận động đất trong những năm gần đây tăng đột ngột, đáng chú ý nhất là trận động đất có cường độ 5,4 vào năm 2015 có chấn tâm tại Nepal.

New Delhi có khí hậu cận nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa (Köppen Cwa) với biến động cao giữa mùa hè và mùa đông về cả nhiệt độ và lượng mưa. Nhiệt độ biến động từ 46 °C (115 °F) vào mùa hè đến khoảng 0 °C (32 °F) vào mùa đông. Kiểu khí hậu cận nhiệt đới ẩm tại khu vực khác biệt đáng chú ý với nhiều thành phố khác có phân loại khí hậu tương tự do có mùa hè kéo dài và rất nóng, mùa đông tương đối khô và ôn hòa, một thời kỳ gió mùa, và các cơn bão cát. Mùa hè kéo dài từ đầu tháng 4 đến tháng 10, mùa gió mùa xuất hiện vào giữa mùa hè. Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 và đạt đỉnh vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình năm là khoảng 25 °C (77 °F); nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 14 đến 34 °C (57 đến 93 °F). Nhiệt độ cao nhất từng ghi nhận được tại New Delhi là 48,4 °C (119,1 °F) vào ngày 28 tháng 6 năm 1883 trong khi nhiệt độ thấp nhất từng ghi nhận được là −2,2 °C (28,0 °F) vào ngày 11 tháng 1 năm 1967, đều đo tại sân bay Palam.[29] Lượng mưa bình quân năm là 784 milimét (30,9 in), hầu hết là trong mùa gió mùa vào tháng 7 và tháng 8.[30]

Dữ liệu khí hậu của New Delhi (Safdarjung) 1981–2010
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 30.0 34.1 40.6 45.6 47.2 48.7 45.0 42.0 40.6 39.4 36.1 29.3 48,7
Trung bình cao °C (°F) 20.5 23.9 29.6 36.3 39.5 39.2 35.4 34.1 34.1 32.8 28.2 23.1 31,4
Trung bình thấp, °C (°F) 7.6 10.4 15.6 21.3 25.8 27.9 27.4 26.6 25.0 19.1 12.9 8.3 19,0
Thấp kỉ lục, °C (°F) −0.6 1.6 4.4 10.7 15.2 18.9 20.3 20.7 17.3 9.4 3.9 1.1 −0,6
Lượng mưa, mm (inch) 19.3
(0.76)
22.1
(0.87)
15.9
(0.626)
13.0
(0.512)
31.5
(1.24)
82.2
(3.236)
187.3
(7.374)
232.5
(9.154)
129.8
(5.11)
14.3
(0.563)
4.9
(0.193)
9.4
(0.37)
762,3
(30,012)
độ ẩm 63 55 47 34 33 46 70 73 62 52 55 62 54
Số ngày mưa TB 1.3 1.8 1.6 1.2 2.5 4.6 9.4 9.8 5.5 1.0 0.5 0.9 40,1
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 214.6 216.1 239.1 261.0 263.1 196.5 165.9 177.0 219.0 269.3 247.2 215.8 2.684,6
Nguồn #1: India Meteorological Department (record high and low up to 2010)[29][31]
Nguồn #2: NOAA (extremes, sun and humidity, 1971–1990)[32]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Laxminarayan là một đền thờ Ấn Độ giáo nổi tiếng tại New Delhi.

New Delhi có 249.998 cư dân (2011).[1] Hindi là ngôn ngữ được nói phổ biến nhất tại New Delhi và là ngôn ngữ chung của thành phố. Tiếng Anh chủ yếu được sử dụng làm ngôn ngữ chính thức trong các tổ chức doanh nghiệp và chính phủ.[33] New Delhi có tỷ lệ cư dân biết chữ đạt 89,38% theo điều tra nhân khẩu năm 2011, mức cao nhất tại Delhi.

Ấn Độ giáo là tôn giáo của 79,8% cư dân New Delhi. Cũng có các cộng đồng Hồi giáo (12,9%), Sikh (5,4%), Jain (1,1%) và Cơ Đốc giáo (0,9%) tại Delhi.[34] Các nhóm tôn giáo khác (2,5%) gồm Hỏa giáo, Phật giáoDo Thái giáo.[35]

Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà Thư ký là trụ sở của các bộ Quốc phòng, Tài chính, Nội vụ và Ngoại vụ. Đây cũng là nơi có văn phòng của Thủ tướng.

Với vị thế thủ đô quốc gia của Ấn Độ, New Delhi đồng thời do chính phủ trung ương và chính phủ Delhi quản lý, đây cũng là thủ phủ của Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi.

Tính đến năm 2015, cấu trúc chính phủ của Hội đồng thành phố New Delhi bao gồm một chủ tịch, ba thành viên hội đồng lập pháp New Delhi, hai thành viên do Thủ hiến Delhi bổ nhiệm và năm thành viên do chính phủ trung ương bổ nhiệm.

Người đứng đầu của Delhi là Phó thống đốc Lãnh thổ Liên bang Delhi, do Tổng thống Ấn Độ bổ nhiệm theo khuyến nghị của chính phủ trung ương và chức vụ phần lớn mang tính nghi lễ, do Thủ hiến Lãnh thổ Liên bang Delhi là người đứng đầu chính phủ và được trao hầu hết quyền lực hành pháp. Theo hiến pháp Ấn Độ, nếu một luật do hội đồng lập pháp Delhi thông qua mâu thuẫn với bất kỳ luật nào do chính phủ Ấn Độ đưa ra, luật do quốc hội ban hành sẽ chiếm ưu thế.[36]

New Delhi do một chính phủ đô thị quản lý, gọi là Hội đồng đô thị New Delhi. Các khu vực đô thị khác của Delhi do Hội đồng đô thị Delhi (MCD) quản lý.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

New Delhi là thành phố thương nghiệp lớn nhất tại miền bắc Ấn Độ. Ước tính tổng sản phẩm nội địa bang ròng (năm tài chính 2010) là INR1595 billion (US$25 billion) theo giá trị danh nghĩa và ~INR6800 billion (US$110 billion) theo giá trị sức mua tương đương.[37] Tính đến năm 2013, thu nhập bình quân đầu người của Delhi là 230.000 rupee, cao thứ hai tại Ấn Độ sau Goa. GSDP tại Delhi theo giá hiện hành vào năm 2012–13 ước tính đạt 3,88 nghìn tỷ rupee so với 3,11 nghìn tỷ rupee năm 2011–12.[38]

Connaught Place là một trong các trung tâm thương nghiệp và tài chính lớn nhất Bắc Ấn Độ, nó nằm tại phần phía bắc của New Delhi. Các khu vực lân cận như Barakhamba Road, ITO cũng là các trung tâm thương nghiệp lớn. Các khu vực chính phủ và bán chính phủ là nơi cung cấp việc làm chủ yếu tại New Delhi. Lĩnh vực dịch vụ trong thành phố được phát triển một phần do lượng lao động Anh ngữ có kỹ năng đông đảo giúp thu hút nhiều công ty đa quốc gia. Các ngành dịch vụ chủ chốt bao gồm công nghệ thông tin, viễn thông, khách sạn, ngân hàng, truyền thông và du lịch.

Báo cáo Y tế Thế giới 2011 xếp hoạt động kinh tế tại New Delhi đứng thứ 39, song toàn thủ đô là 37, trên các thành phố như Jakarta và Johannesburg.[39] New Delhi và Bắc Kinh cùng giữ vị trí đứng đầu về địa điểm bán lẻ thị trường mới nổi được nhắm mục tiêu nhất trong số các thị trường châu Á Thái Bình Dương.[40]

Chính phủ Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi không ban bố bất kỳ số liệu kinh tế nào riêng biệt về New Delhi, song phát hành một báo cáo kinh tế chính thức về toàn Delhi hàng năm. Theo Economic Survey of Delhi, khu vực đô thị đạt tổng sản phẩm nội địa bang thuần là 830,85 tỷ rupee (năm 2004–05)[41] và thu nhập bình quân đầu người 53.976 rupee ($1.200).[41] Năm 2008–09, New Delhi có thu nhập bình quân đầu người là 116.886 rupee ($2.595). Con số này tăng trưởng 16,2% và đạt 135.814 rupee ($3.018) vào năm tài chính 2009–10. GDP/người của New Delhi đạt $6.860 trong năm tài chính 2009–10, là một trong các thành phố giàu có nhất Ấn Độ. Lĩnh vực thứ ba đóng góp 78,4% cho tổng SDP của Delhi, tiếp đến là khu vực thứ hai và khu vực thứ nhất với lần lượt 20,2% và 1,4%.[41]

Tổng sản phẩm nội địa bang (GSDP) của Delhi theo giá hiện hành của năm 2011–12 ước tính đạt 3,13 nghìn tỷ rupee, tăng 18,7% so với năm tài chính trước đó.[42]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Cities having population 1 lakh and above” (PDF). censusindia. The Registrar General & Census Commissioner, India. Truy cập 18 tháng 10 năm 2011. 
  2. ^ Wells, John C. (2008), Longman Pronunciation Dictionary (ấn bản 3), Longman, ISBN 9781405881180 
  3. ^ Roach, Peter (2011), Cambridge English Pronouncing Dictionary (ấn bản 18), Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 9780521152532 
  4. ^ Lahiri, Tripti (13 tháng 1 năm 2012). “New Delhi: One of History’s Best-Kept Secrets”. The Wall Street Journal. 
  5. ^ Stancati, Margherita (8 tháng 12 năm 2011). “New Delhi becomes the capital of Independent India”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2011. 
  6. ^ a ă Wright, Tom (11 tháng 11 năm 2011). “Why Delhi? The Move From Calcutta”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2011. 
  7. ^ Land and Acquisition Act 1894.
  8. ^ Wright, Tom (22 tháng 11 năm 2011). “In 1911, Rush to Name Delhi as Capital Causes a Crush”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011. 
  9. ^ “Was New Delhi a Death Knell for Calcutta?”. The Wall Street Journal. 28 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011. 
  10. ^ Hall, P (2002). Cities of Tomorrow. Blackwell Publishing. tr. 198–206. ISBN 0-631-23252-4. 
  11. ^ Coronation park[liên kết hỏng] Hindustan Times, 14 August 2008.
  12. ^ Lahiri, Tripti (20 tháng 11 năm 2011). “The New Delhis That Might Have Been”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2011. 
  13. ^ Patwant, Singh (2002–2003). “Sir Edwin and the building” (PDF). wmf.org. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013. 
  14. ^ “New Delhi: The Inaugural Ceremony”. The Times (45744) (London). 11 tháng 2 năm 1931. tr. 12. 
  15. ^ “Yadgaar” (PDF). National Museum, New Delhi. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  16. ^ “Architecture of New Delhi”. Apollo. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2012. 
  17. ^ Chishti, M. Anees (2001). “Delhi Town Planning Committee”. Committees and commissions in pre-independence India 1836–1947, Vol. 4. Mittal Publications. tr. 220. ISBN 81-7099-804-2. 
  18. ^ Chishti, p. 225.
  19. ^ Chishti, p. 222.
  20. ^ “A fine balance of luxury and care”. Hindustan Times. 21 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2014. 
  21. ^ “When Railways nearly derailed New Delhi”. Hindustan Times. 18 tháng 1 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2013. 
  22. ^ “CP's blueprint: Bath's Crescent”. Hindustan Times. 8 tháng 2 năm 2011. [liên kết hỏng]
  23. ^ “Capital story: Managing a New Delhi”. Hindustan Times. 1 tháng 9 năm 2011. [liên kết hỏng]
  24. ^ “A tale of two cities”. Hindustan Times. 1 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2015. 
  25. ^ “The Constitution (Sixty-Ninth Amendment) Act, 1991”. The Constitution (Amendment) Acts, The Constitution of India. National Informatics Centre, Ministry of Communications and Information Technology, Government of India. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2007. 
  26. ^ Viswambhar Nath (2007). “Delhi Before 1947”. Urbanization, urban development, and metropolitan cities in India. Concept Publishing Company. tr. 248, 251. ISBN 81-8069-412-7. 
  27. ^ “NDMC Act”. Ndmc.gov.in. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2008. 
  28. ^ “Hazard profiles of Indian districts” (PDF). National Capacity Building Project in Disaster Management. UNDP. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2006. 
  29. ^ a ă “Ever recorded Maximum and minimum temperatures up to 2010” (PDF). India Meteorological Department. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2014. 
  30. ^ “Chapter 1: Introduction” (PDF). Economic Survey of Delhi, 2005–2006. Planning Department, Government of National Capital Territory of Delhi. tr. 1–7. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2006. 
  31. ^ “New Delhi (Safdarjung) Climatological Table Period: 1981–2010”. India Meteorological Department. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2016. 
  32. ^ “New Delhi Climate Normals 1971–1990”. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2012. 
  33. ^ “Know about Delhi Fast Facts, Area, population, Geographical Location, Languages”. 
  34. ^ Censusindiamaps.net Được lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2010 tại Wayback Machine
  35. ^ “Data on Religion”. Census of India 2001. tr. 1. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2006. 
  36. ^ “The Constitution (Amendment)”. Indiacode.nic.in. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2008. 
  37. ^ “Government of NCT of Delhi”. Indian Government. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2012. 
  38. ^ http://www.delhi.gov.in/wps/wcm/connect/cdae30804f9d52d88385c7fb6b929e93/newpaper+clip.PDF?MOD=AJPERES&lmod=-1585547974&CACHEID=cdae30804f9d52d88385c7fb6b929e93
  39. ^ “New Delhi: Overall rank 37; Economic activity rank 39 by 2011 Wealth Report”. Rediff Business. 21 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2011. 
  40. ^ “New Delhi is now among global retail hotspots”. Hindustan Times. 9 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2013. 
  41. ^ a ă â “Chapter 2: State Income” (PDF). Economic Survey of Delhi, 2005–2006. Planning Department, Government of National Capital Territory of Delhi. tr. 8–16. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2006. 
  42. ^ “Delhi's GDP at Rs 3 lakh cr for 2011–12”.