Trà xanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trà xanh
Green tea 3 appearances.jpg
Trà xanh ở ba giai đoạn khác nhau (từ trái sang phải): lá trà được pha, lá trà khô và nước trà. (Lưu ý rằng lá trà đã pha trông xanh hơn lá trà khô.)
Phân loại Trà
Quốc gia xuất xứ Trung Quốc
Vùng xuất xứ Đông Á
Thành phần trà

Trà xanh hay chè xanh làm từ lá cây trà chưa trải qua quá trình héo và ôxi hóa tương tự như chế biến trà Ô Longtrà đen.[1] Trà xanh có nguồn gốc ở Trung Quốc nhưng quy trình sản xuất lan rộng tới nhiều quốc gia ở châu Á. Trà xanh có nhiều loại, mà khác biệt đáng kể do sự đa dạng của cây trà được sử dụng, điều kiện trông trọt, phương pháp canh tác. quá trình trồng trọt và thời gian thu hái.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việc sử dụng trà có nguồn gốc thần thoại ở Trung Quốc trong thời hoàng đế Thần Nông trị vì.[2]

Cuốn sách Trà Kinh của Lục Vũ vào khoảng năm 600-900 sau Công nguyên (đời nhà Đường) (giản thể: ; phồn thể: ; bính âm: chájīng), được coi là kinh thư lịch sử quan trọng về trà xanh. Sách Kissa Yojoki (喫茶養生記) của nhà tu hành Eisai phái Thần Tông năm 1191, có nói về các uống trà có thể ảnh hưởng tới 5 bộ phận cơ thể quan trọng, hình dạng cây trà, hoa và lá trà, cách trồng và chế biến trà xanh.

Pha trà[sửa | sửa mã nguồn]

Hãm trà hay pha trà là cách để tạo ra nước trà , thường sử dụng hai gam trà mỗi 100 ml nước tương đương khoảng 1 thìa cà phê trà xanh trong 150 ml mỗi cốc. Các loại trà chất lượng cao hơn, như "gyokuro", pha nhiều lá trà được hãm với nước sôi nhiều lần trong khoảng thời gian ngắn.

Nhiệt độ nước dùng để hãm dao động từ 61°C đến 87°C với thời gian từ 30 giây đến ba phút. Nói chung, trà xanh chất lượng thấp được hãm nóng hơn và lâu hơn trong khi trà xanh loại tốt được hãm nguội hơn và ngắn hơn, nhưng thường hãm nhiều lần (thường là 2-3 lần). Nước hãm trà quá nóng hoặc hãm quá lâu dẫn đến giải phóng quá mức lượng chất tannin có trong trà, làm nước trà đặc và đắng hơn, bất kể chất lượng trà ban đầu. Hương vị của nước trà cũng ảnh hưởng do kỹ thuật hãm trà. Hai kỹ thuật quan trọng là tráng ấm trà qua nước nóng trước để tránh trà bị nguội và để lá trà trong ấm rồi từ từ rót thêm nước sôi khi uống.

Chiết xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Chiết xuất trà xanh được dùng trong y học cổ truyền Trung Quốc và Ấn Độ với nhiều cách khác nhau.[3]

Lá trà xanh ban đầu được chế biến bằng cách ngâm trong dung dịch cồn, dung dịch này có thể được làm cô đặc hơn nữa ở các nhiều mức độ; các sản phẩm phụ của quá trình này cũng được đóng gói và sử dụng. Sản phẩm chiết xuất có thể được bán dưới dạng lỏng, bột, viên nang hoặc viên nén.[4] Dạng không chứa caffein cũng đã có bán sẵn.[5]

Tiêu chuẩn chiết xuất trà xanh là 90 phần trăm tổng số polyphenol, và 1 viên tương đương với 5 tách trà.[6][7]

Lợi ích sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Trà xanh đã chế biến thông thường
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 4 kJ (0,96 kcal)
0 g
0 g
0.2 g
Vitamin
Thiamine (B1)
(1%)
0.007 mg
Riboflavin (B2)
(5%)
0.06 mg
Niacin (B3)
(0%)
0.03 mg
Vitamin B6
(0%)
0.005 mg
Vitamin C
(0%)
0.3 mg
Chất khoáng
Canxi
(0%)
0 mg
Sắt
(0%)
0.02 mg
Magiê
(0%)
1 mg
Mangan
(9%)
0.18 mg
Kali
(0%)
8 mg
Natri
(0%)
1 mg
Other constituents
Nước 99.9 g
Caffeine 12 mg

Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (US recommendations) cho người trưởng thành.

Một tách trà xanh thông thường gồm 99.9% nước, cung cấp 1 calorie trên 100 mL, không có hàm lượng chất dinh dưỡng đáng kể (bảng) và chứa các hóa chất thực vật như các polyphenol và caffeine. Polyphenols được tìm thấy trong trà xanh có chứa epigallocatechin gallate (EGCG), epicatechin gallate, epicatechin và flavanol,[1] có khả năng chống oxy hoá, chống ung thư, chống viêm và chống lại các tác động sinh hóa khi nghiên cứu trong ống nghiệm.[4] Các thành phần khác bao gồm ba loại flavonoid, được gọi là kaempferol, quercetinmyricetin.[8] Một hàm lượng cao hơn rõ rệt của myricetin được phát hiện trong trà so với nhiều loại cây trồng khác và hàm lượng myricetin này có thể có một số tác động đối với hoạt chất quan sát thực nghiệm thấy trong trà và chiết xuất từ trà trong ống nghiệm.[4]

Mặc dù đã có nhiều công bố về lợi ích sức khoẻ của trà xanh, nghiên cứu lâm sàng trên người chưa đưa ra bằng chứng kết luận về bất kỳ tác dụng nào.[1][9][10]

Năm 2011, một nhóm nhà khoa học đã công bố báo cáo về những tuyên bố liên quan tới ảnh hưởng sức khoẻ theo yêu cầu của Ủy ban châu Âu: nhìn chung, họ nhận định rằng những tuyên bố về trà xanh chưa có bằng chứng khoa học đầy đủ.[9] Mặc dù hàm lượng trung bình flavonoid và catechin trong một tách trà xanh cao hơn trong cùng loại mặt hàng thức uống khác mà theo truyền thống được coi là tăng cường sức khỏe,[11] flavonoids và catechins chưa có bằng chứng chứng minh được tác dụng sinh học đối với cơ thể người.[9][12]

Trồng, thu hoạch và chế biến[sửa | sửa mã nguồn]

Vò trà xanh bằng tay sau khi hấp

Trà xanh được chế biến và trồng theo nhiều cách, tùy thuộc vào loại trà xanh mong muốn. Kết quả của các phương pháp này, lượng polyphenol và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi được giữ lại, ảnh hưởng đến mùi thơm và hương vị. Các điều kiện phát triển có thể được chia thành hai loại cơ bản - những loại được trồng trong ánh mặt trời và loại trồng dưới bóng mát.

Những cây trà xanh được trồng theo hàng được cắt tỉa để tạo ra các chồi một cách thường xuyên, và nói chung được thu hoạch ba lần một năm. Cây đâm chổi nảy lộc lần đầu là vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5. Vụ thu hoạch lần 2 thường diễn ra từ tháng 6 đến tháng 7. Thu hái lần cuối là vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8. Thỉnh thoảng cũng có đợt thu hái trà lần thứ 4. Đó là lần đâm chổi đầu tiên vào mùa xuân do những lá trà có chất lượng tốt nhất, tương ứng với giá thành cao hơn.

Trà xanh có chế biến bằng cả phương pháp thủ công và hiện đại. Phơi khô dưới ánh nắng, sao khô trên chảo, rổ, than hoa là những phương pháp thủ công phổ biến. Sấy khô trong lò, thùng quay hoặc hấp là những phương pháp phổ biến hiện đại.[13] Các loại trà xanh được chế biến, được gọi là aracha, được lưu trữ dưới độ lạnh có mức ẩm thấp trong 30-60 kg túi giấy ở mức nhiệt 0–5 °C (32–41 °F).

Loại trà aracha vẫn chưa được tinh chế ở giai đoạn này, với một lần sấy cuối cùng diễn ra trước khi pha trộn, chọn lựa và đóng gói. Lá trà trong trạng thái này sẽ được sấy khô lại trong suốt cả năm nếu cần, làm trà xanh kéo dài thời gian sử dụng và có hương vị thơm ngon hơn. Trà nảy mầm đầu tiên vào tháng 5 dễ dàng lưu trữ theo cách này cho đến vụ thu hái của năm sau. Sau quá trình sấy lại này, mỗi lô trà thô sẽ được sàng lọc và phân loại theo kích cỡ. Cuối cùng, từng lô sẽ được pha trộn theo thứ hạng pha trộn bởi các chuyên gia nếm và được đóng gói đem bán.[14]

Trà xanh theo quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tiếng Trung
tên tiếng Trung
Phồn thể 綠茶
Giản thể 绿茶
Bính âm Hán ngữ lǜchá
Tên tiếng Việt
Tiếng Việt Lục trà

Trà xanh sợi là loại trà phổ biến nhất tại Trung Quốc kể từ thời Nam Tống.[15][16]

Trà xanh Trung Quốc thời kỳ đầu được chế biến bằng hấp hơi nước, ngày nay vẫn còn tại Nhật Bản. Sau đó, đầu thời nhà Minh, trà thường được chế biến bằng cách sao khô trên chảo.[17] Ngày nay, các cách chế biến khác được áp dụng ở Trung Quốc như sấy chè trong giỏ, sấy lò, sấy trong thùng quay, phơi nắng.[18]

Trà xanh là loại trà được sản xuất rộng rãi nhất ở Trung Quốc, với 1,42 triệu tấn được trồng vào năm 2014.[19]

Những loại trà xanh nổi tiếng được sản xuất tại Trung Quốc ngày nay bao gồm:

Bích Loa Xuân
碧螺春
Suzhou Biluochun 苏州碧螺春.jpg Xuất xứ từ Giang Tô, loại trà này được đặt tên theo hình dạng của lá, cong lại giống như ốc sên.[20]
Trân Mi
珍眉
Chun mee tea.jpg Trà có tên tiếng Quảng Đông là Chun Mee (hàng lông mày quý giá), nổi tiếng bên ngoài khu vực Đại lục, có vị giống vị quả mận.[21]
Châu Trà
珠茶
Grüner Tee Gunpowder.jpg Mỗi lá trà khi sấy khô cuộn lại thành một viên nhỏ như thuốc súng.[22]
Mao Phong Hoàng Sơn Mao Phong hạng trung Một loại trà Mao Phong được trồng tại vùng khí hậu của dãy núi Hoàng Sơn tại tỉnh An Huy. Trà Mao Phong được thu hái bằng cách ngắt nguyên vẹn một búp hai lá trà có cùng kích thước.[23]
Trà Long Tỉnh Longjing tea.jpg Trồng gần khu vực Hàng Châu tại tỉnh Chiết Giang, Long Tỉnh là loại trà Trung Quốc nổi tiếng nhất, chế biến bằng phương pháp sao trên chảo. Hương vị có đặc trưng xuất phát từ thổ nhưỡng của chính khu vực trồng trà.[20]
Lục An Qua Phiến
六安瓜片
Trà hạt dưa Lục An Được trồng tại tỉnh An Huy. Không giống như các loại trà khác của Trung Quốc, hai lá trà được ngắt riêng từ mỗi nhánh, không lấy búp và cuống. Thu hoạch vào cuối mùa, có nhiều vị cỏ hơn các loại trà thông thường khác của Trung Quốc.[24]
Thái Bình Hầu Khôi
太平猴魁
Fresh Hou Kui Green Tea 01.JPG Dùng một giống cây trồng cho ra lá trà lớn khác thường. Thân và lá trà trong quá trình chế biến được làm phẳng thành hình dạng gọi là "hai con dao và một cực". Trà được trồng từ đầu thế kỷ 20 tại khu vực Hầu Khanh, chân núi Hoàng Sơn, Hấp (huyện), tỉnh An Huy. Đạt giải Vua trà Trung Hoa tại Triển lãm trà Trung Quốc năm 2004.[25]
Trà Mao Tiêm Tín Dương
信阳毛尖
Maojian.jpg Một loại trà Mao Tiêm được trồng tại Tín Dương, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc).[26] Trà Mao Tiêm được thu hái bằng cách ngắt một búp cùng với một lá.[23]

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tiếng Hàn Quốc
Korea-Boseong-Green.tea-09.jpg
Đồi trà ở Boseong, Hàn Quốc
Hangul 녹차
Hanja 綠茶
Romaja quốc ngữ nokcha
McCune–Reischauer nokch'a
IPA [nok̚.tɕʰa]
Gakjeochong, một lăng tẩm Goguryeo, cho thấy một hiệp sĩ uống trà với hai phụ nữ (thế kỷ thứ 5-6).

Theo Garakgukgi trích dẫn trong biên niên sử Tam quốc di sự, hoàng hậu trong thần thoại Heo Hwang-ok, công chúa của nước Ayodhya kết hôn với Vua Suro của Gaya, bà đã mang cây trà từ Ấn Độ và trồng tại Baegwolsan, một ngọn núi nay thuộc tỉnh Changwon.[27]:3

Tuy nhiên lại có quan điểm rộng khắp cho rằng việc trồng trà có hệ thống do sự phổ biến văn hóa trà từ Trung Hoa bởi các nhà sư đạo Phật vào khoảng thể kỷ thứ 4.[28]

Trong số những ngôi chùa Phật giáo sớm nhất ở Hàn Quốc, Bulgapsa (được thành lập năm 384 ở Yeonggwang), Bulhoesa (thành lập năm 384 ở Naju) và Hwaeomsa (thành lập năm 544 tại Gurye) tuyên bố là cái nôi của nền văn hoá trà Hàn Quốc.[28]

Trà xanh thường được dâng lên Đức Phật cũng như đối với linh hồn của tổ tiên đã khuất.[28] Văn hóa trà tiếp tục khởi sắc dưới thời Goryeo, với việc dâng trà trở thành một phần của nghi lễ quốc gia lớn nhất và nhiều thị trấn trà được hình thành xung quanh các ngôi đền.[29] Seon- phong tục lễ nghi Phật giáo chiếm ưu thế.[29] Trong suốt thời đại Joseon, tuy văn hóa trà của Hàn Quốc đã trải qua thế tục hóa, cùng với chính nền văn hóa Hàn Quốc.[29]

Nghi lễ truyền thống của Hàn Quốc jesa, còn gọi là charye (Hangul차례; hanja茶禮, "lễ trà"), có nguồn gốc từ chữ darye (Hangul다례; hanja茶禮), việc thực hành dâng trà như một nghi thức truyền thống đơn giản xuất phát từ hoàng gia và giới quý tộc thời Joseon.[29]

Văn hóa trà của Hàn Quốc đã bị đàn áp mạnh mẽ bởi phát xít Nhật trong thời kỳ Nhật chiếm đóng (1910‒1945) và tiếp theo là cuộc Chiến tranh Triều Tiên (1950‒1953) làm cho truyền thống trà tại Hàn Quốc thậm chí khó có thể tồn tại.[30]

Cách trà Hàn Quốc phục hồi bắt đầu vào thập niên 70, quanh Dasolsa.[30] Sản xuất trà xanh thương mại tại Hàn Quốc cũng chỉ bắt đầu vào những năm 70,[31] và vẫn ở mức 20% của Đài Loan và 3.5% của Nhật Bản năm 2012.[32][33]

Ngày nay trà xanh không được ưa chuộng phổ biến như cà phê hay các loại trà truyền thống khác của Hàn Quốc. Mức tiêu thụ trà xanh bình quân đầu người hàng năm tại Hàn Quốc năm 2016 là 0,16 kg (0,35 lb), so với cà phê là 3,9 kg (8,6 lb).[34]

Tuy nhiên gần đây, khi thị trường cà phê đạt đến một điểm bão hòa, sản lượng tiêu thụ trà của Hàn Quốc đã tăng gấp đôi trong giai đoạn 2010‒2014,[35] khi nhập khẩu trà trong các năm từ 2009-2015,[36] mặc dù mức thuế suất rất ca (513.6% với trà xanh, so với 40% trà đen, 8% cho cà phê đã chế biến/rang và 2% với hạt cà phê thô).

Trà xanh Hàn Quốc có thể được phân thành nhiều loại dựa trên một vào yếu tố khác nhau. Phổ biến nhất là dựa vào độ xanh tươi, hoặc thời điểm thu hoạch lá trong năm (và cũng do kích cỡ lá trà).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Khan N, Mukhtar H (2013). “Tea and health: studies in humans”. Current pharmaceutical design (Literature Review) 19 (34): 6141–7. PMC 4055352. PMID 23448443. doi:10.2174/1381612811319340008. 
  2. ^ Dattner, Christine; Boussabba, Sophie (2003). Emmanuelle Javelle, biên tập. The Book of Green Tea. Universe Books. tr. 13. ISBN 978-0-7893-0853-5. 
  3. ^ “Green tea”. Complementary and Alternative Medicine Guide. University of Maryland Medical Center. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015. 
  4. ^ a ă â I.T. Johnson & G. Williamson, Phytochemical functional foods, Cambridge, UK: Woodhead Publishing, 2003, pp. 135-145
  5. ^ “Update on the USP Green Tea Extract Monograph” (bằng tiếng Anh). USP. 10 tháng 4 năm 2009. 
  6. ^ A.H. Pressman & S. Buff, The complete idiot's guide to vitamins and minerals, New York: New York Alpha Books, 1997, p. 283.
  7. ^ A. Bascom, Incorporating herbal medicine into clinical practice, Philadelphia: F.A. Davis Company, 2002, p. 153.
  8. ^ Committee on Diet, Nutrition, and Cancer, Assembly of Life Sciences, National Research Council, Diet, nutrition, and cancer, Washington: D.C National Academies Press, 1982, p. 286.
  9. ^ a ă â “Scientific Opinion on the substantiation of health claims related to Camellia sinensis (L.) Kuntze (tea), including catechins in green tea, and improvement of endothelium-dependent vasodilation (ID 1106, 1310), maintenance of normal blood pressure (ID 1310, 2657), maintenance of normal blood glucose concentrations (ID 1108), maintenance of normal blood LDL cholesterol concentrations (ID 2640), protection of the skin from UV-induced (including photo-oxidative) damage (ID 1110, 1119), protection of DNA from oxidative damage (ID 1120, 1121), protection of lipids from oxidative damage (ID 1275), contribution to normal cognitive function (ID 1117, 2812), "cardiovascular system" (ID 2814), "invigoration of the body" (ID 1274, 3280), decreasing potentially pathogenic gastro-intestinal microorganisms (ID 1118), "immune health" (ID 1273) and "mouth" (ID 2813) pursuant to Article 13(1) of Regulation (EC) No 1924/2006”. European Food Safety Authority. 8 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2014. 
  10. ^ Boehm K, Borrelli F, Ernst E và đồng nghiệp (2009). “Green tea (Camellia sinensis) for the prevention of cancer”. Cochrane Database Syst Rev (Systematic review) (3): CD005004. PMID 19588362. doi:10.1002/14651858.CD005004.pub2. 
  11. ^ USDA Database for the Flavonoid Content of Selected Foods, Release 2.1 (2007)
  12. ^ EFSA Panel on Dietetic Products, Nutrition and Allergies (NDA)2, 3 European Food Safety Authority (EFSA), Parma, Italy (2010). “Scientific Opinion on the substantiation of health claims related to various food(s)/food constituent(s) and protection of cells from premature aging, antioxidant activity, antioxidant content and antioxidant properties, and protection of DNA, proteins and lipids from oxidative damage pursuant to Article 13(1) of Regulation (EC) No 1924/20061” (PDF). EFSA Journal 8 (2): 1489. doi:10.2903/j.efsa.2010.1489. 
  13. ^ Heiss & Heiss 2007, tr. 56–69.
  14. ^ Green Tea Processing, O-cha.com, truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2013 
  15. ^ Mair & Hoh 2009, tr. 70.
  16. ^ Benn 2015, tr. 7–8.
  17. ^ Mair & Hoh 2009, tr. 110–111.
  18. ^ Heiss & Heiss 2007, tr. 58–67.
  19. ^ “国家数据”. National Bureau of Statistics of China. 2014. 
  20. ^ a ă Heiss & Heiss 2007, tr. 124.
  21. ^ Chow & Kramer 1990, tr. 125.
  22. ^ Heiss & Heiss 2007, tr. 65.
  23. ^ a ă Heiss & Heiss 2007, tr. 124–125.
  24. ^ Battle 2017, tr. 106–107.
  25. ^ Battle 2017, tr. 105-106.
  26. ^ Chow & Kramer 1990, tr. 143.
  27. ^ Korean Tea Classics: by Hanjae Yi Mok and the Venerable Cho-ui (bằng tiếng English). Seoul: Seoul Selection. 2010. ISBN 9788991913660.  Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last3= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-first3= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-link= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-first2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-first= (trợ giúp)
  28. ^ a ă â Korean Tea Classics (by Hanjae Yi Mok and the Venerable Cho-ui). Seoul: Seoul Selection. 2010. tr. 3. ISBN 9788991913660.  Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last3= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-first3= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-link= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-first2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last= (trợ giúp)
  29. ^ a ă â b 정, 동효; 윤, 백현; 이, 영희 (2012). “한국 전통차문화생활의 연대”. Cha saenghwal munhwa daejeon 차생활문화대전 (bằng tiếng Hàn). Seoul: Hong Ik Jae. ISBN 9788971433515 – qua Naver. 
  30. ^ a ă Brother Anthony of Taizé; Kyeong-Hee, Hong (2007). The Korean way of tea: an introductory guide. Seoul: Seoul Selection. tr. 97–98. ISBN 978-89-91913-17-2. 
  31. ^ Lee, Geumdong (tháng 2 năm 2014). “韓国における主要3茶産地形成期のリーダーの役割 : 寶城郡, 河東郡, 済州道を事例に” [The Leaders' Contribution of the Formative Period of Korea's 3 Main Tea Producing Areas] (PDF). 佐賀大学農学部彙報 (bằng tiếng Nhật) 99: 1–20. 
  32. ^ “Crops Primary Equivalent”. FAO Corporate Statistical Database. Food and Agriculture Organization of the United Nations. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2017. 
  33. ^ “Crops”. FAO Corporate Statistical Database. Food and Agriculture Organization of the United Nations. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2017. 
  34. ^ 허, 건량 (23 tháng 7 năm 2016). “커피보단 쉼이 있는 ‘차문화’ 부흥을”. Segye Ilbo (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2017. 
  35. ^ 안, 지예 (12 tháng 10 năm 2016). "이제는 커피 대신 '차(茶)'다"…음료업계, 시장 선회”. Sisa on (bằng tiếng Hàn). ISSN 1976-9792. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2017. 
  36. ^ 이, 새봄 (13 tháng 10 năm 2016). “커피, 茶와의 동거…스타벅스 차 브랜드 `티바나` 10일만에 100만잔”. Maeil Business Newspaper (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2017.