Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ United Arab Emirates)
Bước tới: menu, tìm kiếm
الإمارات العربيّة المتّحدة

Al-Imārāt al-ʿArabiyyah al-Muttaḥidah

United Arab Emirates
Flag of the United Arab Emirates.svg Emblem of the United Arab Emirates.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất
Khẩu hiệu

الله, الوطن, الرئيس Allah, al-Waṭan, al-Ra'īs

Thượng đế, Quốc gia, Tổng thống
Quốc ca
Ishy Bilady
Hành chính
Chính phủ Liên bang quân chủ lập hiến
Tổng thống

Thủ tướng
Khalifa bin Zayed Al Nahayan
Mohammed bin Rashid Al Maktoum
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Ả Rập
Thủ đô Abu Dhabi
22°42′B, 46°43′Đ
Thành phố lớn nhất Dubai
Địa lý
Diện tích 83,600 km² (hạng 114)
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ GMT (UTC+4); mùa hè: UTC+4
Lịch sử
2 tháng 12, 1971 Thành lập
Dân cư
Dân số ước lượng (2006) 4,496,000 người (hạng 116)
Mật độ 54 người/km² (hạng 139)
Kinh tế
GDP (PPP) (2006) Tổng số: 130.8 tỷ Mỹ kim
HDI (2003) 0.849 cao (hạng 41)
Đơn vị tiền tệ Dirham (AED)
Thông tin khác
Tên miền Internet .ae

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (tiếng Ả Rập: دولة الإمارات العربية المتحدة Dawlat al-Imārāt al-'Arabīyah al-Muttaḥidah) là một quốc gia quân chủ chuyên chế liên bang tại Tây Á. Quốc gia này nằm trên bán đảo Ả Rập và giáp với vịnh Ba Tư , có biên giới trên bộ với Oman về phía đông và với Ả Rập Saudi về phía nam, có biên giới hàng hải với Qatar về phía tây và với Iran về phía bắc. Năm 2013, dân số Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là 9,2 triệu, trong đó 1,4 triệu người có quyền công dân và 7,8 triệu người là ngoại kiều.[1][2][3]

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là một liên bang gồm bảy tiểu vương quốc, và được thành lập vào ngày 2 tháng 12 năm 1971. Các tiểu vương quốc cấu thành là Abu Dhabi, Ajman, Dubai, Fujairah, Ras al-Khaimah, SharjahUmm al-Quwain. Mỗi tiểu vương quốc do một vị quân chủ chuyên chế cai trị; họ hình thành Hội đồng Tối cao Liên bang. Một trong các quân chủ được chọn làm tổng thống của liên bang. Hồi giáo là quốc giáo và tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức (song tiếng Anh và các ngôn ngữ Ấn Độ được nói phổ biến).

Trữ lượng dầu của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đứng thứ bảy thế giới còn trữ lượng khí đốt thiên nhiên của nước này đứng thứ mười bảy thế giới.[4][5] Sheikh Zayed là quân chủ của Abu Dhabi và là tổng thống đầu tiên của liên bang, ông giám sát quá trình phát triển của quốc gia và đưa doanh thu từ dầu mot đến các lĩnh vực y tế, giáo dục và hạ tầng.[6] Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất có nền kinh tế đa dạng nhất trong Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, và thành phố đông dân nhất liên bang là Dubai cũng là một thành phố toàn cần quan trọng và là một trung tâm hàng không quốc tế.[7][8] Tuy thế, quốc gia này vẫn chủ yếu dựa vào xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên.[9][10][11]

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bị chỉ trích do thành tích nhân quyền của họ, bao gồm diễn giải cụ thể Luật Hồi giáo Sharia trong hệ thống pháp lý.[12][13][14] Vị thế quốc tế của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đang gia tăng, khiến một số nhà phân tích nhận định rằng đây là một cường quốc khu vực và cường quốc bậc trung.[15][16]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời kỳ cổ đại, Al Hasa (nay là tỉnh Đông của Ả Rập Saudi) là bộ phận của Al Bahreyn và tiếp giáp Đại Oman (nay là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Oman). Từ thế kỷ 2 CN, các bộ lạc chuyển dịch từ Al Bahreyn hướng đến vùng Vịnh thấp hơn, cùng với đó là luồng di cư của các nhóm bộ lạc Azdite Qahtani (hay Yamani) và Quda'ah từ tây nam bán đảo Ả Rập hướng đến miền trung Oman. Các nhóm Sassanid hiện diện tại bờ biển Batinah. Năm 637, Julfar (tại khu vực nay là Ra's al-Khaimah) là một cảng quan trọng, được sử dụng làm điểm dừng chân của quân Hồi giáo đi xâm lược Đế quốc Sassanid Ba Tư.[17] Khu vực Al Ain/Ốc đảo Buraimi được gọi là Tu'am và là một điểm mậu dịch quan trọng đối với các tuyến đường lạc đà giữa duyên hải và nội địa bán đảo Ả Rập.[18]

Thời điểm Hồi giáo truyền bá đến mũi đông bắc của bán đảo Ả Rập được cho là diễn ra ngay sau một lá thư của Nhà tiên tri Hồi giáo Muhammad gửi đến những người cai trị Oman vào năm 630. Tiếp đó có một nhóm người cai trị đi đến Medina, cải sang Hồi giáo và sau đó lãnh đạo khởi nghĩa thành công chống lại Sassanid.[19] Sau khi Muhammad từ trần, các cộng đồng Hồi giáo mới ở phía nam vịnh Ba Tư có nguy cơ tan rã do có các cuộc khởi nghĩa chống các thủ lĩnh Hồi giáo. Khalip Abu Bakr phái một đội quân từ thủ đô Medina, họ hoàn thành tái chinh phục lãnh thổ sau trận chiến đẫm máu tại Dibba khiến khoảng 10.000 người thiệt mạng.[20] Hành động này đảm bảo tính toàn vẹn của Đế quốc Hồi giáo và thống nhất bán đảo Ả Rập dưới quyền Đế quốc Rashidun mới xuất hiện.

Bản đồ khu vực vào năm 1914

Môi trường hoang mạc khắc nghiệt dẫn đến xuất hiện "bộ lạc đa tài", các nhóm du mục sinh sống nhờ một loạt các hoạt động kinh tế, bao gồm chăn nuôi, trồng trọt và săn bắn. Các nhóm này chuyển dịch theo mùa nên họ thường xuyên xung đột với nhau, và lập ra các khu dân cư và trung tâm mùa vụ và bán mùa vụ. Chúng hình thành các nhóm bộ lạc có danh xưng tồn tại đến nay, trong đó có Bani Yas và Al Bu Falah của Abu Dhabi, Al Ain, Liwa và duyên hải Al Bahrayn, Dhawahir, Awamir và Manasir tại nội địa, Sharqiyin tại duyên hải phía đông và Qawasim ở phía bắc.[21]

Đến thế kỷ 16, các cảng tại vịnh Ba Tư và bộ phận cư dân tại khu vực nay là duyên hải Iraq, Kuwait và Ả Rập Saudi nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của Đế quốc Ottoman.[22][23] Trong khi đó, các lực lượng thực dân Bồ Đào Nha, Anh và Hà Lan cũng xuất hiện tại vùng Vịnh, còn toàn bộ duyên hải phía bắc vịnh Ba Tư lúc này vẫn do Ba Tư cai quản. Đến thế kỷ 17, bang liên Bani Yas là lực lượng chi phối hầu hết khu vực nay là Abu Dhabi.[24][25][26] Người Bồ Đào Nha duy trì ảnh hưởng đối các khu dân cư duyên hải, xây dựng các công sự sau khi chinh phạt các khu dân cư duyên hải trong thế kỷ 16, đặc biệt là trên duyên hải phía đông tại Muscat, SoharKhor Fakkan.[27]

Duyên hải phía nam vịnh Ba Tư được người Anh gọi là "Duyên hải Hải tặc",[28][29] do thuyền của liên bang Al Qawasim (Al Qasimi) có căn cứ tại khu vực này tiến hành quấy nhiễu tàu treo cờ Anh từ thế kỷ 17 cho đến thế kỷ 19.[30] Các đội viễn chinh Anh bảo vệ tuyến đường đến Ấn Độ trước những kẻ cướp tại Ras al-Khaimah dẫn đến các chiến dịch nhằm vào các trụ sở và bến cảng khác dọc duyên hải vào năm 1809 và sau đó là vào năm 1819. Đến năm sau, Anh Quốc và một số người cai trị địa phương ký một hiệp ước chiến đấu với nạn hải tặc dọc duyên hải vịnh Ba Tư, khiến xuất hiện thuật ngữ "Các Nhà nước đình chiến", xác định tình trạng của các tiểu vương quốc duyên hải. Các hiệp ước tiếp theo được ký kết vào năm 1843 và 1853.

Thời kỳ Anh bảo hộ[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ yếu là nhằm phản ứng trước tham vọng của các quốc gia châu Âu khác là Pháp và Nga, Anh Quốc và các quốc gia Đình chiến lập nên quan hệ mật thiết hơn trong một hiệp ước năm 1892. Các sheikh (quân chủ) chấp thuận không chuyển nhượng bất kỳ lãnh thổ nào với ngoại lệ là Anh và không tham gia các mối quan hệ với bất kỳ chính phủ ngoại quốc nào ngoại trừ Anh mà không được Anh họ đồng ý. Đổi lại, Anh hứa bảo hộ Duyên hải Đình chiến trước toàn bộ các cuộc công kích bằng đường biển và giúp đỡ trong trường hợp có tấn công trên bộ. Hiệp ước này được ký kết bởi các quân chủ của Abu Dhabi, Dubai, Sharjah, Ajman, Ras Al Khaimah và Umm Al Quwain từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 3 năm 1892. Sau đó nó được Phó vương Ấn Độ và Chính phủ Anh tại Luân Đôn phê chuẩn.[31] Do chính sách hàng hải của Anh, các đội tàu ngọc trai có thể hoạt động tương đối an toàn. Tuy nhiên, người Anh cấm chỉ buôn bán nô lệ nên một số sheikh và thương nhân bị mất một nguồn thu nhập quan trọng.[32]

Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ngành công nghiệp ngọc trai phát triển mạnh, tạo ra thu nhập và việc làm cho cư dân vịnh Ba Tư. Chiến tranh thế giới thứ nhất có tác động nghiêm trọng đến ngành công nghiệp, rồi nghề này bị xóa xổ do suy thoái kinh tế toàn cầu vào cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930 cùng với việc phát minh ngọc trai nuôi cấy. Tàn dư của nghề ngọc trai biến mất không lâu sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi Chính phủ Ấn Độ đánh thuế nặng ngọc trai nhập khẩu từ vùng Vịnh. Ngành ngọc trai suy thoái khiến kinh tế Các quốc gia Đình chiến cực kỳ gian khổ.[33]

Dubai năm 1950.

Người Anh thiết lập một văn phòng phát triển để giúp đỡ các tiểu vương quốc một số phát triển nhỏ. Bảy sheikh của các tiểu vương quốc sau đó quyết định thành lập một hội đồng để hợp tác các vấn đề giữa họ và kế tục văn phòng phát triển. Năm 1952, họ hình thành Hội đồng Các quốc gia Đình chiến,[34] và bổ nhiệm Adi Bitar, cố vấn pháp lý của Sheikh Rashid của Dubai, làm tổng thư ký và cố vấn pháp lý của hội đồng. Hội đồng kết thúc khi Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hình thành.[35] Tính chất bộ lạc trong xã hội và việc thiếu xác định biên giới giữa các tiểu vương quốc thường xuyên dẫn đến các tranh chấp, được giải quyết thông qua hòa giải hoặc bằng vũ lực song hiếm thấy.

Năm 1922, chính phủ Anh đảm bảo được cam đoan từ những người cai trị địa phương rằng họ không ký kết nhượng địa với các công ty ngoại quốc. Nhận thức tiềm năng phát triển các tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, Công ty Dầu mỏ Iraq (IPC) do Anh lãnh đạo thể hiện quan tâm đến khu vực, Công ty Dầu Anh-Ba Tư (APOC, sau là BP) có 23,75% cổ phần trong IPC. Từ năm 1935, đạt được đồng thuận với những người cai trị địa phương về nhượng địa khai thác dầu trên bờ, APOC ký kết thỏa thuận đầu tiên.[36] APOC bị ngăn cản độc quyền phát triển khu vực do hạn chế của Thỏa thuận Làn ranh Đỏ, theo đó yêu cầu nó phải hoạt động thông qua IPC. Một số quyền mua bán cổ phần giữa PCL và những quân chủ địa phương được ký kết, cung cấp thu nhập hữu ích cho các cộng đồng từng trải qua bần cùng sau khi ngành ngọc trai sụp đổ.

Khi thu nhập từ dầu tăng lên, quân chủ của Abu Dhabi là Zayed bin Sultan Al Nahyan cho tiến hành một chương trình xây dựng lớn, xây các trường học, nhà ở, bệnh viện và đường xá. Khi Dubai bắt đầu xuất khẩu dầu vào năm 1969, Sheikh Rashid bin Saeed Al Maktoum có thể đầu tư thu nhập từ trữ lượng hạn chế nhằm thúc đẩy đa dạng hóa giúp tạo ra thành phố toàn cầu Dubai ngày nay.[37]

Độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Zayed bin Sultan Al Nahyan là tổng thống đầu tiên của quốc gia.

Đến năm 1966, tình hình trở nên rõ ràng rằng chính phủ Anh không còn có thể đủ khả năng cai quản và bảo hộ khu vực nay là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Ngày 24 tháng 1 năm 1968, Thủ tướng Anh Harold Wilson công bố quyết định của chính phủ, được tái xác nhận vào tháng 3 năm 1971 bởi Thủ tướng Edward Heath là kết thúc các mối quan hệ hiệp ước với bảy tiểu vương quốc Đình chiến cùng với Bahrain và Qatar. Sau công bố này, quân chủ của Abu Dhabi là Sheikh Zayed bin Sultan Al Nahyan do lo ngại bị tấn công nên nỗ lực thuyết phục Anh tôn trọng các hiệp ước bảo hộ bằng cách đề xuất chi trả toàn bộ chi phí duy trì quân đội Anh tại khu vực. Chính phủ Công Đảng của Anh bác bỏ đề xuất.[38] Sau khi Nghị sĩ Công Đảng Goronwy Roberts thông báo cho Sheikh Zayed tin tức về việc người Anh triệt thoái, chín tiểu vương quốc vịnh Ba Tư nỗ lực hình thành một liên minh gồm các tiểu vương quốc Ả Rập, song đến giữa năm 1971 họ vẫn không thể đồng thuận về các điều khoản liên minh dẫu cho quan hệ hiệp ước với Anh sẽ kết thúc trong tháng 12 cùng năm.[39]

Bahrain độc lập vào tháng 8, và Qatar độc lập vào tháng 9 năm 1971. Đến khi hiệp ước các tiểu vương quốc Đình chiến thuộc Anh mãn hạn vào ngày 1 tháng 12 năm 1971, họ trở thành các quốc gia độc lập hoàn toàn.[40] Các quân chủ của Abu Dhabi và Dubai tuyên bố hình thành một liên minh giữa hai tiểu vương quốc, chuẩn bị một hiến pháp, sau đó kêu gọi quân chủ của năm tiểu vương quốc khác họp và trao cho họ cơ hội gia nhập. Hai tiểu vương quốc cũng đồng thuận rằng hiến pháp được viết vào ngày 2 tháng 12 năm 1971.[41] Vào ngày đó, tại Cung điện Nhà khách Dubai, bốn tiểu vương quốc khác đồng ý tham gia một liên minh gọi là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Bahrain và Qatar từ chối lời mời tham gia liên minh. Tiểu vương quốc Ras al-Khaimah tham gia liên minh vào đầu năm 1972.[42][43]

Ngày 2 tháng 11 năm 2004, tổng thống đầu tiên của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là Sheikh Zayed bin Sultan Al Nahyan từ trần. Con trai cả của ông là Sheikh Khalifa bin Zayed Al Nahyan kế vị làm Tiểu vương của Abu Dhabi. Theo quy định của hiến pháp, Hội đồng Tối cao các Quân chủ của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bầu Khalifa làm tổng thống. Sheikh Mohammed bin Zayed Al Nahyan kế vị Khalifa làm Thái tử Abu Dhabi.[44] Tháng 1 năm 2006, Sheikh Maktoum bin Rashid Al Maktoum, thủ tướng Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và là quân chủ Dubai, từ trần, và Thái tử Sheikh Mohammed bin Rashid Al Maktoum đảm nhiệm cả hai chức vụ.

Bầu cử toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất vào ngày 16 tháng 12 năm 2006. Một lượng nhỏ cử tri được lựa chọn trước sẽ tiến hành bầu ra một nửa thành viên của Hội đồng Quốc gia Liên bang, một cơ cấu cố vấn. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hầu như tránh được Mùa xuân Ả Rập; tuy nhiên, có trên 100 nhà hoạt động Kỳ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bị tống giam và tra tấn vì họ yêu cầu cải cách. Hơn thế, một số người bị tước quốc tịch.[45]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống hiện tại của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Khalifa bin Zayed Al Nahyan.

UAE theo chế độ quân chủ lập hiến gồm 7 tiểu vương quốc (UAE) hợp lại. Cơ quan quyền lực tối cao là Hội đồng tối cao 7 tiểu vương. Hội đồng này bầu Tổng thốngPhó Tổng thống trong số các thành viên của mình. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng và các thành viên Hội đồng Bộ trưởng. Mọi quyết định được thông qua theo đa số. Là 2 Tiểu vương quốc giàu nhất cung cấp tới 3/4 ngân sách toàn quốc nên Abu DhabiDubai có quyền phủ quyết.

Các đảng phái chính trị đều bị cấm hoạt động.

Thể chế liên bang[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng tối cao gồm các cá nhân cầm quyền ở bảy tiểu vương quốc. Tổng thống và Phó tổng thống được Hội đồng tối cao bầu ra với nhiệm kỳ năm năm. Dù là không chính thức, Tổng thống trên thực tế là người thừa kế dòng họ Al-Nahyan ở Abu Dhabi và Thủ tướng là người thừa kế dòng họ Al-Maktoom ở Dubai. Hội đồng tối cao cũng lựa chọn ra Hội đồng Bộ trưởng, trong khi một Hội đồng liên bang quốc gia gồm 40 thành viên được chỉ định từ khắp bảy tiểu quốc, quản lý việc thảo các dự luật. Nước này có một hệ thống tòa án liên bang; mọi tiểu quốc trừ Dubai và Ras al-Khaimah đều đã gia nhập hệ thống liên bang; tất cả các tiểu quốc đều có cả hệ thống luật theo truyền thống và luật Hồi giáo đối với dân sự, hình sự và tòa án cấp cao.

Sheikh Zayed bin Sultan Al Nahyan là tổng thống từ khi liên bang này được thành lập cho tới khi ông mất ngày 2 tháng 11, 2004. Con trai ông, Khalifa bin Zayed Al Nahayan được bầu làm tổng thống vào ngày hôm sau.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

UAE thực hiện đường lối đoàn kết Ả Rập, dựa vào Mỹphương Tây, đồng thời hướng về châu Á (chủ yếu là Pakistan, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ). Đối với khu vực Đông Nam Á, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất chú trọng phát triển quan hệ với Singapore, Thái LanMalaysia.

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hiện là thành viên của Liên Hiệp Quốc, OPEC, Liên đoàn Ả Rập, Phong trào không liên kết, Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC), Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), G-77, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức lao động quốc tế (ILO)...

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hiện là nước giàu thứ hai trong thế giới Hồi giáo và đứng thứ 17 trong 61 nền kinh tế có tính cạnh tranh cao trên thế giới, ngành hàng không đứng thứ 8 thế giới, ngành du lịch đứng thứ 2 trong khu vực. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất xuất khẩu chủ yếu dầu thô, khí đốt, hàng tái xuất, cá khô, chà là, nhập khẩu máy móc, thiết bị vận tải, hoá chất, thực phẩm

Từ năm 1973, UAE đã tiến hành một sự thay đổi lớn biến một vùng đất sa mạc cằn cỗi thành một đất nước hiện đại có mức sống cao. Với mức sản xuất như hiện nay trữ lượng dầu và khí gas có thể khai thác trên 100 năm. Chính phủ có thể đầu tư nhiều hơn để tạo việc làm, mở rộng cơ sở hạ tầng và thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển.

Tài nguyên thiên nhiên chủ yếu là dầu lửa và hơi đốt (trữ lượng dầu lửa 98 tỷ thùng, chiếm khoảng 10% tổng dự trữ dầu đã được xác định của thế giới), trữ lượng khí đốt: 5.892 tỷ m3, xếp hàng thứ 4 thế giới (sau Nga, Iran, và Qatar). Ngành công nghiệp chủ chốt là khai thác và chế biến dầu lửa. Sản lượng dầu khai thác đạt khoảng 3,046 triệu thùng/ngày. Các ngành nông nghiệp chủ yếu là chăn nuôi và trồng chà là. Trồng trọt phát triển ở các ốc đảo bờ đông Liwa, Al Ain, Falaj Al Mualla. Sản phẩm nông nghiệp có chà là, rau quả, gia cầm, trứng, sữa, (tự túc được gần 100% nhu cầu về cá).

Các đối tác thương mại chính: Nhật, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc, Đức, Ấn Độ, Pháp, Anh, Iran.

Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 4%, công nghiệp 58,5%, dịch vụ 37,5% (2008).

GDP: $228,6 tỉ USD (2009)

GDP bình quân đầu người: 50.000 USD (2009)

Hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng không quốc gia các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất trước kia là Gulf Air, hoạt động chung với BahrainOman. Ngày 13 tháng 9, 2005, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất thông báo họ đang rút lui khỏi Gulf Air để tập trung vào Etihad Airways, công ty hàng không quốc gia mới của họ, thành lập năm 2003.

Năm 1985, Dubai thành lập công ty hàng không riêng đặt tên là Emirates.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất

Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất nằm ở Tây Nam Á, có biên giới với Vịnh Omanvịnh Péc xích, nằm giữa OmanẢ rập Xê út. Nước này có địa hình đồng bằng ven biển phẳng xen lẫn với những cồn cát di chuyển bên trong những vùng đất đai cằn cỗi rộng lớn; với địa hình núi non ở phía đông. Sa mạc chiếm hơn 90% diện tích đất nước [1]. Vị trí chiến lược của Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất với lãnh thổ nằm dọc theo lối vào phía nam Eo Hormuz biến nó trở thành một điểm quá cảnh quan trọng trên con đường vận chuyển dầu mỏ thế giới. Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất được coi là một trong mười lăm quốc gia sở hữu cái gọi là "Cái nôi của loài người".

Các hiệp ước phân chia biên giới năm 1974 và 1977 giữa Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất và Ả rập Xê út chưa bao giờ được tuyên bố công khai. Vì thế, biên giới chính xác của hai nước này chỉ được chính phủ của họ biết rõ.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu ở UAE là khí hậu sa mạc, nóng và khô, nhiệt độ lạnh hơn ở vùng phía đông. Từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau khí hậu tương đối mát mẻ, dễ chịu, buổi tối hơi lạnh. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9 khí hậu nóng, nhiệt độ có thể lên tới 42⁰C. Do đó, hầu hết ôtô và các tòa nhà đều có máy điều hòa nhiệt độ. UAE rất ít mưa, mưa rào chỉ xuất hiện vài lần mỗi năm vào các tháng mùa đông với lượng mưa trung bình vào khoảng 110mm/năm. Các tháng mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 01 năm sau) thỉnh thoảng có mưa rào và bão cát.

Lãnh thổ bao quanh lãnh thổ nước khác, và lãnh thổ trong lãnh thổ nước khác[sửa | sửa mã nguồn]

25°17′4″B 56°19′59″Đ / 25.28444°B 56.33306°Đ / 25.28444; 56.33306

Lãnh thổ Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất bao quanh một vùng đất của Oman được gọi là Wadi Madha. Vùng này nằm giữa đường từ bán đảo Musandam tới phần còn lại của Oman, trên con đường Dubai-Hatta tại Vương quốc Sharjah. Nó rộng gần 75 km² (29 mi²) và biên giới vùng được phân định năm 1969. Góc tây bắc Madha là điểm nằm gần con đường Khor Fakkan-Fujairah nhất, chỉ cách 10 m (33 ft). Bên trong vùng đất này là có một lãnh thổ nhỏ của Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, tên gọi Nahwa, cũng thuộc Vương quốc Sharjah. Nó nằm khoảng 8 km (5 mi) trên một con đường bùn phía tây thị trấn New Madha. Vùng này có khoảng 40 ngôi nhà với trạm điện thoại và bệnh viện riêng [2].

Kỹ thuật và viễn thông[sửa | sửa mã nguồn]

Luật Liên bang số 1 [3] năm 1976 quy định Tập đoàn Viễn thông các tiểu vương quốc là nhà cung cấp độc quyền dịch vụ điện thoạiviễn thông trong nước, tuy nhiên, những vùng tự do và các dự án phát triển nhà ở hiện đại được loại trừ khỏi điều luật này và được quyền sử dụng dịch vụ từ các công ty viễn thông khác.

Trên đa phần lãnh thổ Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Etisalat va Du được cung cấp các dịch vụ viễn thông cá nhân và thương mại.

Cơ quan quản lý viễn thông (TRA) buộc Etisalat va Du kiểm duyệt mọi website.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số bản địa tính đến tháng 7 năm 2006 là 3,55 triệu dân, tốc độ tăng dân số bình quân là 1,5%. Dân số ở đây chủ yếu là dân nhập cư, phần lớn họ là người Ấn Độ và các nước Ả Rập láng giềng. Dân số phân bổ theo quốc tịch như sau: 19% gốc UAE, 23% là người gốc ả rập khác và Iran, 50% là dân gốc Nam Á và 8% từ các nước châu Á. Khoảng 80% dân số các Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất là dân thành thị.

Ngôn ngữ chính thức ở UAE là tiếng Ả Rập, tuy nhiên các cơ quan chính quyền đều có khả năng sử dụng tiếng Anh. Tiếng Anh được dùng rộng rãi và trở thành ngôn ngữ chủ yếu trong kinh doanh. Hầu hết các biển báo trên đường phố đều được viết bằng tiếng Anh hoặc tiếng Ả Rập.

UAE là nước đạo Hồi. Người theo Đạo Hồi chiếm 96% dân số, còn lại là Công giáo, Ấn giáo và các đạo khác (chiếm 4%).

Văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm trong văn hóa Hồi giáo, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất có những mối quan hệ chặt chẽ với phần còn lại của thế giới Ả rập. Chính phủ nước này cam kết gìn giữ các hình thức nghệ thuật và văn hóa truyền thống, chủ yếu thông qua Quỹ Văn hóa Abu Dhabi. Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy sự thay đổi bên trong đời sống xã hội - quan điểm về phụ nữ đang phát triển cởi mở hơn, và những môn thể thao mới như golf, với hai giải được tổ chức định kỳ (Dubai Desert ClassicAbu Dhabi Golf Championship) cùng cuộc đua ngựa Dubai World Cup diễn ra vào tháng 3 hàng năm dần trở nên quen thuộc với dân chúng bên cạnh những môn thể thao đua lạc đà truyền thống. Vì ưu thế tuyệt đối của đức tin Hồi giáo, thịt lợn và rượu thường ít khi hiện diện trong vùng. [4]

Những ngày lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời gian Tên tiếng Việt/Anh Tiếng Ả Rập chuyển tự
1 tháng 1 Năm mới رأس السنة الميلادية
Tùy thuộc Ngày hy sinh Eid ul-Adha (عيد الأضحى)
Tùy thuộc Năm mới Lịch Hồi giáo Ra's Al Sana Al Hijria (رأس السنة الهجرية)  
6 tháng 8 Thăng thiên H.H. Sheikh Zayed bin Sultan-al Nahyan  
Tùy thuộc Du ngoạn đêm Isra'a wa al-Miraj (الإسراء و المعراج)  
2 tháng 12 Quốc khánh Al-Eid Al Watani (العيد الوطني)  
Tùy thuộc Kết thúc Ramadan Eid ul-Fitr (عيد الفطر)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên natur
  2. ^ “Labor Migration in the United Arab Emirates: Challenges and Responses”. migrationpolicy.org. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016. 
  3. ^ “United Arab Emirates country profile”. BBC News (bằng tiếng en-GB). 28 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2016. 
  4. ^ “Oil – proved reserves”. Cia.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2012. 
  5. ^ Natural Gas. BP Statistical Review of World Energy June 2012
  6. ^ “United Arab Emirates profile”. BBC News. 14 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ Iyer, Srinivasan (30 tháng 12 năm 2014). “Dubai International is world's busiest airport”. The National. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2015. 
  8. ^ “IMF Data Mapper”. Imf.org. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016. 
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên WorldFactbook
  10. ^ “WTO Trade Statistic 2009”. Stat.wto.org. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016. 
  11. ^ “Economic diversification in the GCC countries” (PDF). tr. 13. 
  12. ^ “Sharia law and Westerners in Dubai: should non-Muslims in UAE be made to face Islamic justice?”. 
  13. ^ “United Arab Emirates: Torture and Flogging”. Fanack. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2014. 
  14. ^ “Country Reports on Human Rights Practices for 2008”. Jeffrey T. Bergner. tr. 2203. 
  15. ^ Laipson, Ellen (3 tháng 9 năm 2014). “The UAE and Egypt's New Frontier in Libya”. The National Interest. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  16. ^ Evans, Gareth (29 tháng 6 năm 2011). “Middle Power Diplomacy”. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  17. ^ Ibrahim Abed; Peter Hellyer (2001). United Arab Emirates, a New Perspective. Trident Ltd. tr. 83–84. ISBN 978-1-900724-47-0. 
  18. ^ Bey, Frauke (1996). From Trucial States to United Arab Emirates. Longman (UK). tr. 22–23. ISBN 0582277280. 
  19. ^ Bey, Frauke (1996). From Trucial States to United Arab Emirates. Longman (UK). tr. 127. ISBN 0582277280. 
  20. ^ Bey, Frauke (1996). From Trucial States to United Arab Emirates. Longman (UK). tr. 127–128. ISBN 0582277280. 
  21. ^ Lorimer, John (1908). The Gazetteer of the Persian Gulf, Oman and Central Arabia. Government of India (Bombay). tr. 1432–1436. 
  22. ^ Anscombe, Frederick F. (1997). The Ottoman Gulf: The Creation of Kuwait, Saudi Arabia, and Qatar. Columbia University Press (New York). 
  23. ^ Çetinsaya, Gökhan (2003). The Ottoman View of British Presence in Iraq and the Gulf: The Era of Abdulhamid II. Frank Cass (London). 
  24. ^ Bey, Frauke (1996). From Trucial States to United Arab Emirates. Longman (UK). tr. 43. ISBN 0582277280. 
  25. ^ 'Kashf Al Gumma' "Annals of Oman from Early times to the year 1728 AD" – Journal of the Asiatic Society of Bengal, 1874
  26. ^ Ibn Ruzaiq, translated by GP Badger, "History of the Imams and Sayids of Oman", London 1871
  27. ^ Bey, Frauke (1996). From Trucial States to United Arab Emirates. Longman (UK). tr. 282. ISBN 0582277280. 
  28. ^ Baker, Randall, King Husain and the Kingdom of Hejaz, The Oleander Press, 1979, Great Britain
  29. ^ THE BRITISH THREAT TO THE OTTOMAN PRESENCE IN THE PERSIAN GULF DURING THE ERA OF ABDULHAMID II AND THE RESPONSES TOWARDS IT, BILAL EMRE BIRAL, MIDDLE EAST TECHNICAL UNIVERSITY, ANKARA, 2009
  30. ^ “November 3, 2008 – The UAE is the old Pirate Coast. Not much has changed.”. Wayne Madsen Report. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016. [liên kết hỏng]
  31. ^ Tore Kjeilen (4 tháng 4 năm 2007). “Trucial States”. Looklex.com. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2010. 
  32. ^ United Arab Emirates – The Economy. Library of Congress Country Studies. Retrieved 14 July 2013.
  33. ^ “UAE History & Traditions: Pearls & pearling”. UAEinteract. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016. 
  34. ^ “Al Khaleej News Paper”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2008. 
  35. ^ “Trucial States Council until 1971 (United Arab Emirates)”. Fotw.net. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2011. 
  36. ^ Heard, David (2013). From Pearls to Oil. Motivate (UAE). tr. 41–42. ISBN 9781860633119. 
  37. ^ “Middle East | Country profile: United Arab Emirates”. BBC News. 11 tháng 3 năm 2009. 
  38. ^ Jonathan Gornall (2 tháng 12 năm 2011). “Sun sets on British Empire as UAE raises its flag”. The National. Abu Dhabi. 
  39. ^ “History the United Arab Emirates (UAE) – TEN Guide”. Guide.theemiratesnetwork.com. 11 tháng 2 năm 1972. 
  40. ^ “Bahrain – INDEPENDENCE”. Country-data.com. 
  41. ^ “United Arab Emirates: History, Geography, Government, and Culture —”. Infoplease.com. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016. 
  42. ^ Simon C. Smith (2004). Britain's Revival and Fall in the Gulf: Kuwait, Bahrain, Qatar, and the Trucial States, 1950–71. Routledge. tr. 64–. ISBN 978-0-415-33192-0. 
  43. ^ “Trucial Oman or Trucial States – Origin of Trucial Oman or Trucial States | Encyclopedia.com: Oxford Dictionary of World Place Names”. Encyclopedia.com. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2011. 
  44. ^ “Veteran Gulf ruler Zayed dies”. BBC News. 2 tháng 11 năm 2004. 
  45. ^ “United Arab Emirates: Silencing dissent in the United Arab Emirates (UAE)”. Amnesty International. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ

Thông tin chung

Các cộng đồng và diễn đàn về Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất

Các tổ chức phi chính phủ

  • Ansar Burney Trust - working on human rights and human trafficking issues in the Middle East; and against the use of children for slavery for camel racing in the UAE
  • MAFIWASTA - working on workers' rights issues

Truyền thông

Thể thao

Mua sắm