Bước tới nội dung

Carol I của România

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Carol I của România
Vua của Romania
Tại vị15 tháng 3 năm 1881 - 27 tháng 9 năm 1914
Đăng quang10 tháng 5 năm 1881
Kế nhiệmFerdinand I
Thân vương România
Tại vị20 tháng 4 năm 1866 - 14 tháng 3 năm 1881
Tiền nhiệmAlexandru Ioan Cuza
Kế nhiệmTrở thành Quốc vương
Thông tin chung
Sinh(1839-04-20)20 tháng 4 năm 1839
Sigmaringen, Hohenzollern-Sigmaringen, Bang liên Đức
Mất10 tháng 10 năm 1914(1914-10-10) (75 tuổi)
Sinaia, Vương quốc România
An tángCurtea de Argeș, România
Phối ngẫuElisabeth xứ Wied
Hậu duệVương nữ Maria
Tên đầy đủ
Karl Eitel Friedrich Zephyrinus Ludwig
Vương tộcHohenzollern-Sigmaringen
Thân phụKarl Anton I xứ Hohenzollern
Thân mẫuJosephine xứ Baden
Tôn giáoCông giáo La Mã
Chữ kýChữ ký của Carol I của România

Carol I của România (Tiếng Anh: Charles I, 20 tháng 4 năm 1839 - 10 tháng 10 năm 1914), là vị quân chủ thứ 2 của România từ năm 1866 đến khi qua đời vào năm 1914. Đầu tiên ông được bầu làm Thân vương (Domnitor) thứ 2 của Thân vương quốc România sau khi vị thân vương đầu tiên bị lật đổ, từ năm 1866 đến năm 1881 ông là vua đầu tiên của Vương quốc România khi thân vương quốc này được nâng lên thành vương quốc.

Trước khi được bầu làm thân vương của România, ông có tước hiệu là Thân vương tử Karl xứ Hohenzollern-Sigmaringen, gia tộc của ông thuộc nhánh Hohenzollern-Swabia thuộc Vương tộc Hohenzollern - Chủ nhân của Vương quốc Phổ là nhánh Hohenzollern-Franconia. Ngày 20/04/1866, sau khi vị thân vương đầu tiên của România là Alexandru Ioan Cuza bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính ngay tại cung điện, Thân vương tử Karl đã được bầu lên ngôi vị thân vương. Vào tháng 05/1877, Vương quốc Anh tuyên bố România là một quốc gia độc lập và có chủ quyền. Sự thất bại của Đế quốc Ottoman trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ (1877-1878) đã đảm bảo nền độc lập và đưa România ra khỏi sự thần phục người Ottoman. Thân vương quốc România được nâng lên thành vương quốc, và Carol I trở thành vị vua đầu tiên của Nhà Hohenzollern-Sigmaringen cai trị vùng đất này. Gia tộc của Carol I cai trị România cho đến khi nền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa România được thiết lập vào năm 1947.

Dưới thời trị vì của mình, Carol I đã đích thân lãnh đạo quân đội Thân vương quốc România trong Chiến tranh Nga-Thổ và nắm quyền chỉ huy liên quân Nga-România trong cuộc bao vây Plevna. Sau cuộc chiến, România giành hoàn toàn độc lập khỏi Đế quốc Ottoman, được các cường quốc châu Âu công nhận thông qua Hiệp ước Berlin (1878), và giành được miền Nam Dobruja từ Vương quốc Bulgaria vào năm 1913. Đời sống chính trị được tổ chức xoay quanh 2 đảng Tự do và Bảo thủ đối trọng nhau. Dưới thời trị vì của Carol, ngành công nghiệp và cơ sở hạ tầng của România đã được cải thiện nhiều, nhưng quốc gia này vẫn có nền kinh tế tập trung vào nông nghiệp và tình hình của tầng lớp nông dân vẫn không được cải thiện, dẫn đến một cuộc nổi dậy lớn vào năm 1907 bị chính quyền đàn áp đẫm máu.

Ông kết hôn với Elisabeth xứ Wied tại Neuwied vào ngày 15/11/1869. Họ chỉ có một người con gái, đó là Vương nữ Maria, nhưng đã mất vào năm 3 tuổi. Carol không có thêm bất cứ một người con nào nữa, vì thế nên nhà vua đã chọn anh trai là Leopold làm người kế vị. Nhưng đến tháng 10/1880, Leopold từ bỏ quyền kế thừa ngai vàng để ủng hộ con trai mình là William, sáu năm sau đó, Wilhelm lại từ bỏ quyền kế vị để ủng hộ em trai mình, tương lai chính là Vua Ferdinand I của România.

Sau Chiến tranh giành độc lập, Carol đã cho đúc Vương miện Thép dùng cho các quân vương România, thay vì dùng vàng, ông đã dùng thép từ một khẩu đại bác mà quân đội România thu được từ quân Ottoman để đúc. Tất cả các vị vua sau Carol I đều đội Vương miện Thép khi đăng cơ.

Cuộc sống đầu đời

[sửa | sửa mã nguồn]
Thân vương tử Karl năm 6 tuổi

Thân vương tử Karl Eitel Friedrich Zephyrinus Ludwig của Hohenzollern-Sigmaringen sinh vào ngày 20/04/1839 tại Sigmaringen.[1] Ông là con trai thứ hai của Karl Anton I xứ HohenzollernJosephine xứ Baden.[2] Sau khi hoàn thành bậc tiểu học, Karl vào Trường Thiếu sinh quân ở Münster. Năm 1857, ông theo học các khóa học của Trường Pháo binh ở Berlin.[3] Trước khi được bầu làm thân vương của România, Thân vương tử Karl là một sĩ quan của Vương quốc Phổ.[4] Ông tham gia Chiến tranh Schleswig lần thứ hai, bao gồm cả cuộc tấn công thành FredericiaDybbøl, đây là một kinh nghiệm rất hữu ích cho ông sau này trong cuộc Chiến Nga-Thổ Nhĩ Kỳ.[5]

Mặc dù khá ốm yếu và không cao lắm, nhưng Thân vương tử Karl được cho là một người lính hoàn hảo, khỏe mạnh và có kỷ luật, đồng thời cũng là một chính trị gia rất giỏi với những tư tưởng tự do. Thân vương tử Karl có thể nói được nhiều ngôn ngữ châu Âu.[3] Gia đình của ông có mối quan hệ mật thiết với Nhà Bonaparte (bà ngoại của ông là Stéphanie de Beauharnais, cháu của người chồng đầu tiên của Hoàng hậu Joséphine, và người còn lại là Marie Antoinette Murat, cháu gái của Joachim Murat), và họ có nối quan hệ rất tốt với Napoleon III của Pháp.[2]

Quá trình tiếp nhận ngai vàng România

[sửa | sửa mã nguồn]
Xu bạc: 5 lei của Thân vương quốc România, với mặt trước là chân dung Carol I - 1881[6]

Nhà cai trị có công thống nhất România thành một thực thể chính là vị thân vương đầu tiên - Alexandru Ioan Cuza, nhưng ông đã bị các quý tộc của România làm cuộc đảo chính và trục xuất khỏi đất nước, khiến cho România rơi vào cảnh hỗn loạn về chính trị. Tiền thân của Thân vương quốc România là 2 lãnh thổ WallachiaMoldavia, các lãnh thổ này tách biệt nhau, và nhờ có Alexandru Ioan Cuza mà chúng mới thống nhất lại. Khi ông ra đi, đất nước România có nguy cơ tan rã, vì Đế quốc Ottoman và các cường quốc khác ban đầu chỉ chấp nhận sự thống nhất này dưới triều đại của ông.[7][8]

Khi các chính trị gia România tìm kiếm người thay thế Alexandru Ioan Cuza tiếp nhận ngai vàng România, Thân vương tử Karl không phải là lựa chọn đầu tiên của họ. Các quý tộc trong cuộc đảo chính chống Cuza đầu tiên là nhấm đến Philippe của Bỉ, Bá tước xứ Flandre, em trai của Léopold II của Bỉ, hy vọng rằng ông sẽ đưa các mô hình của Vương quốc Bỉ đến Hạ Danube và biến đất nước mới thống nhất thành một "Nước Bỉ của phương Đông".[9][10] Sự lựa chọn này không được sự đồng ý của Napoléon III, Hoàng đế của Đệ Nhị Đế chế Pháp và lời mời này cũng bị Vương tử Philippe từ chối, trước đó ông cũng từng từ chối tiếp nhận ngai vàng của Hy Lạp.[11]

Ngay sau đó Hoàng đế Napoleon III của Pháp đã đề nghị đưa Thân vương tử Karl, anh vợ của Philippe tiếp nhận ngai vàng. Khuyến nghị của Napoléon có sức nặng với các chính trị gia România thời đó, vì România chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Pháp. Napoléon là người ủng hộ mạnh mẽ nền độc lập của România, với hy vọng củng cố ảnh hưởng của Pháp trên Biển Đen.[12][13] Một yếu tố khác khiến điều này trở thành hiện thực là mối quan hệ huyết thống của Thân vương tử Karl với Nhà Hohenzollern, Hoàng tộc đang cai trị Vương quốc Phổ. Ion C. Brătianu là người được giới quý tộc România cử đến đàm phán với Thân vương tử Karl và gia đình của ông về kế hoạch đưa ông lên ngai vàng România.[14]

Do xung đột chính trị giữa Vương quốc PhổĐế quốc Áo, nên Thân vương tử Karl đã di chuyển ẩn danh bằng đường sắt từ Düsseldorf đến Baziaș, qua Thụy Sĩ. Tại đây ông nhận được hộ chiếu Thụy Sĩ từ một nhân viên công vụ Thụy Sĩ, là người có mối quan hệ với gia đình ông, với cái tên Karl Hettingen.[1][15] Vì không có đường sắt đến România nên ông đã đi thuyền từ Baziaș đến Turnu Severin. Khi băng qua biên giới để sang đất România, ông đã gặp Brătianu và lên xe ngựa đi cùng để đến thủ đô.[16] Karl chính thức được bầu lên tiếp nhận ngôi vị Thân vương của România vào ngày 20/04.

Ngày 10/05/1866, ông đến thủ đô Bucharest. Tin tức về sự xuất hiện của ông đã được truyền đi bằng điện báo và tại nơi này ông đã được một đám đông chào đón nòng nhiệt. Tại Băneasa, Bucharest ông đã được trao chìa khoá của thủ đô. Hôm đó là một ngày mưa sau một thời gian dài hạn hán, vì thế mà người địa phương xem đây là một điềm lành.[17] Khi lên ngôi, Karl đã tuyên thệ: "Tôi thề sẽ bảo vệ luật pháp của România, duy trì các quyền của Người dân và sự toàn vẹn của lãnh thổ." Ông đọc lời tuyên thệ này bằng tiếng Pháp vì lúc đó chưa nói được tiếng România.[16][18] Trên thực tế, người ta nói rằng, trước khi được đề cử làm Vua của România, ông chưa bao giờ nghe nói về nơi này.[19] Tuy nhiên sau đó ông mau chóng yêu quý đất nước România nơi mình cai trị, ông chọn vương hiệu là Carol I, được viết theo tiếng România, và ông cũng học nói tiếng România không lâu sau đó.[18]

Giai đoạn đầu trị vì

[sửa | sửa mã nguồn]
Romania và vùng phụ cận vào khoảng năm 1866.

Hiến pháp năm 1866

[sửa | sửa mã nguồn]
Biếm hoạ chống triều đại, xuất bản trong Ghimpele, 1872. Bảng bên trái: Alexandru Ioan Cuza bị Ion Brătianu phản bội; bảng bên phải: Carol I, được hỗ trợ bởi Otto von Bismarck và Brătianu, nuôi dưỡng ảnh hưởng và đặc quyền kinh tế của Đức

Ngày 29 tháng 6 – hai tháng sau khi Carol đến – Quốc hội Romania đã thông qua Hiến pháp Romania năm 1866, một trong những hiến pháp hiện đại nhất thời bấy giờ. Carol đã ký ban hành thành luật hai ngày sau đó. Được xây dựng dựa trên Hiến pháp Bỉ, Hiến pháp này đảm bảo quyền tư hữu, tự do ngôn luận, tự do báo chí hoàn toàn, bãi bỏ án tử hình trong thời bình và thiết lập chế độ tam quyền phân lập.[20][21] Mặc dù bản chất tự do của đạo luật này, Hiến pháp lại cấm những người không theo Kitô giáo trở thành công dân, một biện pháp ảnh hưởng nặng nề đến cộng đồng Do Thái ở Romania.[5][22][23]

Hiến pháp này cho phép phát triển và hiện đại hóa nhà nước Romania. Trong một động thái táo bạo, Hiến pháp đã chọn cách phớt lờ quyền bá chủ trên danh nghĩa của Đế quốc Ottoman, vốn đã mở đường cho nền độc lập de jure.[22]

Điều 82 quy định ngai vàng là chức vụ cha truyền con nối của hậu duệ Carol "theo dòng dõi nam giới thông qua quyền con trưởng, vĩnh viễn loại trừ phụ nữ và con cháu của họ khỏi quyền thừa kế ngai vàng".[24] Điều này cũng yêu cầu hậu duệ của Carol phải "được nuôi dạy theo Chính thống giáo Đông phương".[23][25] Mặc dù Carol được trao quyền hành pháp, nhưng ông không chịu trách nhiệm chính trị trong việc thực thi quyền này. Các hành vi của ông chỉ có hiệu lực nếu được một bộ trưởng ký duyệt, người sau đó sẽ chịu trách nhiệm về hành vi đó. Tuy nhiên, ông vẫn có thẩm quyền đạo đức to lớn, là biểu tượng của quốc gia và sự thống nhất của nó.[26]

Chiến tranh Pháp-Phổ và Cộng hòa Ploiești

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ Cuộc vây hãm Plevna từ ấn bản thứ 4 của Meyers Konversationslexikon

Mặc dù Romania không tham gia Chiến tranh Pháp-Phổ 1870–1871, nhưng cuộc xung đột này vẫn ảnh hưởng đến giai đoạn đầu trị vì của Carol I. Vì ông là một Thân vương gốc Đức cai trị một quốc gia có truyền thống thân Pháp, nên có một cảm giác ngờ vực mạnh mẽ đối với Carol trong thời gian đó, người vẫn chưa được coi là người Romania.[4][27][28] Một số nỗ lực buộc Thân vương thoái vị đã diễn ra vào khoảng thời gian này, thường do những người theo chủ nghĩa cộng hòa và những người theo chủ nghĩa tự do cấp tiến do Ion C. BrătianuC. A. Rosetti lãnh đạo.[29]Lỗi chú thích: Không có </ref> để đóng thẻ <ref>

Sự kiện nổi tiếng nhất xảy ra vào ngày 8 tháng 8 năm 1870, khi những người theo chủ nghĩa tự do cấp tiến ở thành phố Ploiești bắt đầu một cuộc nổi dậy và âm mưu đảo chính bằng cách bắt giữ cảnh sát trưởng và quận trưởng, chiếm giữ một số tòa nhà chính thức và tuyên bố thành lập cái gọi là Cộng hòa Ploiești. Cuộc nổi dậy kéo dài chưa đầy 24 giờ và dẫn đến việc bắt giữ nhiều nhà lãnh đạo Đảng Tự do.[27][30]

Các dự án cộng hòa trong tương lai rất hiếm, đặc biệt là kể từ khi Brătianu trở thành thủ tướng vào năm 1876 và giúp Đảng Tự do nắm giữ quyền lực cho đến năm 1889, trở thành những người ủng hộ trung thành của Vua Carol.[30][31]

Chiến tranh giành độc lập (1877–1878)

[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1875 đến năm 1877, các cuộc nổi dậy chống Ottoman đã diễn ra ở một số quốc gia Balkan, đáng chú ý nhất là Bulgaria, nơi các cuộc Khởi nghĩa Tháng Tư năm 1876 đã bị đàn áp dã man bởi lực lượng bashi-bazouks bất hợp pháp. Sự phẫn nộ quốc tế trước vụ thảm sát Bulgaria - đặc biệt là từ phía Nga, quốc gia tự coi mình là người bảo vệ Chính thống giáo nói chung và người Bulgaria nói riêng - đã châm ngòi cho một số nỗ lực ngoại giao trong năm tiếp theo. Sau thất bại của những nỗ lực ngoại giao này, Nga tuyên chiến với Đế chế Ottoman vào ngày 24 tháng 4 năm 1877, mở màn cho Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, được sử học Romania gọi là Chiến tranh giành độc lập.[27][32]

Theo lệnh của Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Mihail Kogălniceanu và trái với lời khuyên của Hội đồng Hoàng gia, Carol quyết định cho phép quân đội Nga đi qua lãnh thổ của mình trên đường đến Bulgaria. Điều này dẫn đến việc Thổ Nhĩ Kỳ bắn phá các thị trấn Romania trên sông Danube. Vào thời điểm này, Romania đã thực sự độc lập, "chỉ bị ràng buộc với Đế chế Ottoman bằng cách nộp cống (đã giảm xuống còn 1% ngân sách của đất nước) và một số đặc quyền chủ yếu mang tính hình thức trong các vấn đề chính sách đối ngoại". [33]

Romania tham chiến

[sửa | sửa mã nguồn]
Quân đội Romania trở về Bucharest sau chiến tranh, ngày 8 tháng 10 năm 1878

Vào ngày 10 tháng 5 năm 1877, Romania tuyên bố độc lập, chấm dứt quyền thượng quốc - chư hầu của Đế chế Ottoman tại Romania tồn tại từ năm 1861. Tuyên bố được đưa ra và bỏ phiếu bởi Quốc hội và được công bố bởi Thân vương Carol.[34]

Mặc dù Nga rất vui mừng khi được trao quyền di chuyển tự do trong lãnh thổ Romania, nhưng họ kịch liệt phản đối việc Romania chủ động tham chiến, vì điều này sẽ giúp Romania có một vị trí trên bàn đàm phán sau chiến tranh. Tuy nhiên, sau khi cuộc tiến công của Nga bị chặn lại bên ngoài thị trấn Pleven của Bulgaria, họ đã yêu cầu quân đội Romania can thiệp khẩn cấp. Carol nắm quyền chỉ huy lực lượng liên quân Nga và Romania đang vây hãm Pleven, và sau những trận giao tranh ác liệt và một cuộc bao vây kéo dài, Osman Nuri Pasha đã đầu hàng vào ngày 28 tháng 11 năm 1877. Chiến thắng này đã tạo nên làn sóng trong xã hội Romania, đưa tên tuổi Carol lên hàng anh hùng dân tộc.[33]

Quân đội Romania, dưới sự chỉ huy của Carol, tiếp tục chiến đấu trong chiến tranh, đáng chú ý nhất là các trận Smârdan và Vidin.[35] Đầu năm 1878, người Thổ Nhĩ Kỳ đang thua trận và vào ngày 3 tháng 3, họ đã ký Hiệp ước San Stefano, công nhận nền độc lập của Romania, Serbia, Montenegro và quyền tự chủ của Bulgaria.[36][37]

Kết quả

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh, Hiệp ước Berlin công nhận Romania là một quốc gia độc lập vào ngày 13 tháng 7 năm 1878. Ngoài ra, Romania còn được trao vùng lãnh thổ Bắc Dobruja trước đây của Ottoman, một lợi thế lãnh thổ vô cùng quý giá, giúp Romania sở hữu cửa sông và châu thổ Danube và quyền tiếp cận Biển Đen.[33][38] Từ năm 1878, Carol giữ phong cách Royal Highness (Alteță Regală).

Chiến tranh cũng đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của Thân vương quốc Bulgaria. Quốc gia non trẻ này bắt đầu tìm kiếm một Thân vương mới, và Carol I nằm trong số những ứng cử viên, mặc dù ông đã không được chọn.[39]

Ngày 15 tháng 3 năm 1881, hiến pháp được sửa đổi để tuyên bố Romania là một vương quốc. Carol trở thành vị vua đầu tiên của Vương quốc Romania, trong khi người thừa kế chính thức hoặc người thừa kế hợp pháp sẽ được gọi là Vương tử Hoàng gia. Ngày 10 tháng 5, Carol lên ngôi vua. Hiến pháp năm 1866 vẫn được giữ nguyên, với từ "thân vương" được thay thế bằng từ "vua".[40][41]

Vương miện Thép Romania được sử dụng trong lễ đăng quang của Carol được rèn từ thép của một khẩu pháo Ottoman bị Quân đội Romania chiếm được tại Pleven.[42][43] Từ năm 2016, nó được đưa lên quốc huy Romania.[44]

Vua Romania

[sửa | sửa mã nguồn]
Cầu Anghel Saligny (được gọi là Cầu Vua Carol I dưới thời chế độ quân chủ) bắc qua sông Danube.

Vua Carol là một người đàn ông lạnh lùng, luôn tập trung vào uy tín của triều đại mà ông đã sáng lập. Vợ ông, Elizabeth, tuyên bố rằng ông 'đội vương miện trong khi ngủ'.[45] Ông rất tỉ mỉ và cố gắng áp đặt phong cách của mình lên mọi người xung quanh. Mặc dù tận tụy với công việc cai trị Romania, ông không bao giờ quên nguồn gốc Đức của mình. Trong 48 năm cai trị - dài nhất trong lịch sử Romania - ông đã giúp Romania giành được độc lập, nâng cao uy tín, giúp khôi phục nền kinh tế và thiết lập một triều đại. Trên dãy núi Carpathian, ông đã xây dựng Lâu đài Peleș theo phong cách Đức, được coi là một trong những lâu đài đẹp nhất châu Âu và vẫn là một trong những địa danh được ghé thăm nhiều nhất của Romania.[46] Sau Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, Romania đã giành được Bắc Dobruja và Carol đã ra lệnh cho kỹ sư người Romania Anghel Saligny (một đối thủ cạnh tranh và là bạn của Gustave Eiffel) xây dựng cây cầu vĩnh cửu đương đại đầu tiên bắc qua sông Danube, giữa FeteștiCernavodă, nối tỉnh mới giành được với phần còn lại của đất nước.[47][48] Vào thời điểm đó, nó là cây cầu dài nhất châu Âu và mặc dù không còn được sử dụng nữa, nhưng nó vẫn còn nguyên vẹn cho đến năm 2023.[14][49]

Quyền lực cá nhân của nhà vua trong các vấn đề quân sự và chính sách đối ngoại là không thể bàn cãi. Năm 1883, ông đã đích thân sắp xếp một liên minh quan trọng với Liên minh Trung tâm mà không cần thảo luận tại Quốc hội hay với bất kỳ ai ngoài một số ít người trong cuộc. Khi gia hạn liên minh vào năm 1892, ông phải thông báo cho thủ tướng và bộ trưởng ngoại giao, nhưng Quốc hội và công chúng nói chung thậm chí còn không biết đến sự tồn tại của nó cho đến khi bắt đầu Thế chiến thứ nhất.[50][51]

Vào ngày 22 tháng 6 năm 1884, Quốc hội đã bỏ phiếu ủng hộ việc trao cho Carol và những người kế vị một điền trang hoàng gia lớn, đưa nhà vua trở thành địa chủ lớn nhất cả nước.[52]

Domnitor Carol cùng vợ và cô con gái duy nhất (1873)

Triều đại của ông đã thiết lập chế độ quân chủ lập hiến và chứng kiến những ngày đầu của nền dân chủ ở Romania, mặc dù thực tế là các cuộc bầu cử thời đó phần lớn được coi là bị kiểm soát. Mặc dù những người soạn thảo Hiến pháp có ý định trao phần lớn quyền lực cho Quốc hội, nhưng Nhà vua lại có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình bầu cử. Về cơ bản, ông sẽ luân phiên nắm quyền giữa hai đảng, đưa phe đối lập vào vị trí bất cứ khi nào ông cảm thấy đảng cầm quyền đương nhiệm đã hết thời. Chính phủ mới sẽ tổ chức các cuộc bầu cử mà họ chắc chắn sẽ thắng.[33][53] Điều này dẫn đến tình huống Quốc hội phản ánh ý chí của chính phủ, chứ không phải ngược lại như trong một nền dân chủ nghị viện thực sự.

Từ năm 1886 đến năm 1887, có một đề xuất mới đưa Carol I lên làm người cai trị Bulgaria. Ông được Stefan Stambolov, nhiếp chính của đất nước sau khi Thân vương Bulgaria Alexander xứ Battenberg thoái vị, ủng hộ mạnh mẽ. Ý định của Stambolov là thiết lập một liên minh cá nhân giữa Bulgaria và Romania. Carol I quan tâm đến đề nghị này, nhưng đã phải từ chối dưới áp lực của Đế quốc Nga.[39]

Những năm cuối đời và Thế chiến thứ nhất đang đến gần

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1913, Romania can thiệp vào Chiến tranh Balkan lần thứ hai và xâm lược Thân vương quốc Bulgaria. Việc quân đội Romania tiến về Sofia đã buộc Bulgaria phải đàm phán một hiệp định đình chiến, dẫn đến Hiệp ước Bucharest (1913), giúp Romania giành được lãnh thổ Nam Dobruja, mở rộng lãnh thổ mà đất nước giành được dưới thời Vua Carol và khẳng định vai trò thống trị của Romania trong khu vực.[54][55]

Sự cai trị lâu dài của Carol đã góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của nhà nước Romania. Vào cuối triều đại của mình và khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất bắt đầu, Carol muốn tham chiến đứng về phía Liên minh Trung tâm; tuy nhiên, dư luận Romania lại chủ yếu ủng hộ Pháp và đứng về phía Liên minh Tam cường. Carol đã ký một hiệp ước bí mật vào năm 1883, hiệp ước này đã liên kết Romania với Liên minh Tam cường. Mặc dù hiệp ước chỉ được kích hoạt nếu Đế chế Nga tấn công một trong những bên ký kết, Carol tin rằng việc làm danh dự là tham chiến để ủng hộ Đế chế Đức và người anh em họ của ông, Hoàng đế Wilhelm II.[21][56]

Vào ngày 3 tháng 8 [O.S. [21 tháng 7] năm 1914, một cuộc họp khẩn cấp đã được tổ chức với Hội đồng Hoàng gia, tại đó Carol đã nói với họ về hiệp ước bí mật và chia sẻ quan điểm của mình với họ. Tuy nhiên, hầu hết các thành viên Hội đồng Hoàng gia đều phản đối mạnh mẽ, chọn thái độ trung lập, với thủ tướng Brătianu là người có tiếng nói đặc biệt mạnh mẽ trong việc gìn giữ hòa bình đạt được từ Hiệp ước Bucharest.[57]

Vua Carol qua đời vào ngày 10 tháng 10 [O.S. 27 tháng 9] năm 1914. Vị vua mới, Ferdinand (dưới ảnh hưởng của vợ ông, Marie xứ Edinburgh, một Vương nữ Anh), sẵn sàng lắng nghe dư luận hơn và đã đưa Romania vào cuộc chiến tranh về phía phe Đồng minh vào năm 1916.[57][58]

Cuộc sống và gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]
Vua Carol I của Romania cùng cháu trai (Ferdinand) và cháu trai (Carol). Khoảng năm 1905.

Khi được bầu làm Thân vương Romania, Carol vẫn chưa lập gia đình. Năm 1869, Thân vương bắt đầu chuyến đi vòng quanh châu Âu, chủ yếu là các nhà nước Đức, để tìm kiếm một cô dâu. Trong chuyến đi này, ông đã gặp và kết hôn với Elizabeth xứ Wied tại Neuwied vào ngày 15 tháng 11 năm 1869. Cuộc hôn nhân của họ khá kỳ lạ, Carol là một người đàn ông lạnh lùng và tính toán, trong khi Elizabeth lại là một kẻ mơ mộng nổi tiếng, người đã xuất bản các tác phẩm văn học dưới bút danh Carmen Sylva.[13][59] Họ có một người con, Vương nữ Maria, sinh năm 1870, mất ngày 9 tháng 4 (N.S.) năm 1874.[60] Bà không có triển vọng thừa kế ngai vàng của cha mình; như đã đề cập ở trên, Hiến pháp chỉ cho phép dòng dõi nam kế vị. Điều này dẫn đến sự xa cách hơn nữa giữa cặp đôi hoàng gia, Elizabeth không bao giờ hoàn toàn hồi phục sau chấn thương mất đứa con duy nhất của mình.[13]

Sau khi Vương quốc được tuyên bố thành lập (năm 1881), việc kế vị trở thành một vấn đề rất quan trọng của nhà nước. Vì anh trai của Carol, Leopold xứ Hohenzollern (năm 1880) và con trai cả của ông này là Wilhelm xứ Hohenzollern (năm 1886), từ bỏ quyền thừa kế, nên con trai thứ hai của Leopold là Ferdinand, được phong làm Vương tử Romania và là người thừa kế ngai vàng vào năm 1886.[61]

Về cuối đời, Carol và Elizabeth cuối cùng đã tìm được cách để hiểu nhau và được cho là đã trở thành bạn tốt của nhau.[13]

Carol qua đời vào ngày 10 tháng 10 [lịch cũ 27 tháng 9] năm 1914, hưởng thọ 75 tuổi.[62]

Đài phun nước trong cung điện của Vua Romania, Carol I của Romania, ở Sinaia. 1907

Carol I được xem là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử dân tộc Romania đương đại. Ông thường được miêu tả trong sử sách như một nhà lãnh đạo lịch sử ngang hàng với Decebalus, Stephen Đại đế, Mihai Dũng cảm hay Alexandru Ioan Cuza.[63] Quan điểm này xuất hiện vào nửa sau triều đại của ông, với việc thành lập chế độ quân chủ lập hiến và chiến thắng trong Chiến tranh giành độc lập, biến Carol trở thành một nhân vật huyền thoại ngay trong chính cuộc đời ông, theo sử gia Lucian Boia:

Triều đại dài lâu của ông (kéo dài 48 năm, hơn Stephen Đại đế 1 năm) đã cho phép huyền thoại này thành hiện thực ngay trong thời gian ông còn sống. Hình ảnh vị vua, ban đầu tầm thường, đã trở nên rực rỡ trong những năm cuối thế kỷ. Một tấm áp phích giáo dục khoảng năm 1900 giới thiệu "bốn trụ cột của người Romania", cùng với các anh hùng khác của lịch sử Wallachia. Bốn người đó là Trajan và Decebalus, Cuza và Carol I. Ngay cả Mihai Dũng cảm cũng trở thành một nhân vật phụ khi so sánh. Carol dường như có nguồn gốc tự nhiên từ lịch sử Romania; tất nhiên, ông ấy đại diện cho một sự khởi đầu mới, nhưng là một sự khởi đầu dựa trên nền tảng cũ hơn nhiều.[63]

Trong thời kỳ Cộng sản, Carol trở thành mục tiêu khinh miệt của các nhà sử học Romania, cũng như tất cả các nhân vật khác có liên quan đến chế độ quân chủ. Ông thường được mô tả là một thân vương nước ngoài tham tiền được các nhà tư bản phương Tây đưa lên ngai vàng để thắt chặt quyền kiểm soát của họ đối với nhà nước Romania, không hơn gì một con tốt của Kaiser, người cần một quân chủ tuân theo mệnh lệnh của mình một cách mù quáng để cai trị hạ lưu sông Danube. Ngoài ra, ông được mô tả là kẻ thù của nông dân, những người đã cố gắng cướp đất của họ và hãm hiếp các cô gái nông dân trẻ. Ông thường được coi là nguồn gốc duy nhất của sự phẫn nộ trong Cuộc nổi dậy nông dân năm 1907.[64][65][66][68] Bắt đầu từ nửa sau của những năm 1970, hình ảnh của Carol đã được phục hồi ở một mức độ nào đó bởi các nhà sử học Romania, những người đã tách mình ra khỏi quan điểm tuyên truyền hơn của ba thập kỷ qua. Trong khi các ấn phẩm chính thống hơn, chẳng hạn như sách giáo khoa, tiếp tục đường lối chống chế độ quân chủ, một số học giả bắt đầu mô tả triều đại của ông là một giai đoạn tiến bộ của quốc gia và thừa nhận vai trò của ông trong việc duy trì Liên bang non trẻ.[66]

Sau sự sụp đổ của Chủ nghĩa Cộng sản vào năm 1989, chế độ quân chủ đã được phục hồi hoàn toàn trong mắt công chúng. Carol hiện được coi là biểu tượng của sự thống nhất dân tộc, người được coi là người sáng lập nhà nước Romania hiện đại và là một trong những cá nhân được kính trọng nhất trong lịch sử đất nước.[11][67][68] Trong chương trình 100 người Romania vĩ đại nhất do truyền hình quốc gia phát sóng năm 2006, Carol I đã được bình chọn là người Romania vĩ đại thứ hai từng sống, chỉ sau Stephen Đại đế.[69]

Đại học Quốc phòng Carol IThư viện Đại học Trung tâm ở Bucharest, cùng với Cao đẳng Quốc gia Carol I ở Craiova được đặt theo tên ông để vinh danh.[70][71][72]

Huân chương Carol I được thành lập vào năm 1906 và cho đến năm 1947 là vinh dự cao nhất do Vương quốc Romania trao tặng.[73] Năm 2005, nó được vương thất Romania tái lập như một huân chương triều đại.[74]

Huy hiệu và vinh dự

[sửa | sửa mã nguồn]
Huy hiệu của Carol I
với tư cách là Thân vương
Huy hiệu của Carol I với tư cách là quốc vương Cờ hiệu của Carol I với tư cách là quốc vương
Huân chương quốc gia
Huân chương nước ngoài[77]

Trích dẫn

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b Frucht, Richard (2005). Eastern Europe: An Introduction to the People, Lands, and Culture (bằng tiếng Anh). Quyển 3. Santa Barbara, CA, Denver, CO and Oxford: ABC-CLIO. tr. 754. ISBN 9781576078006.
  2. ^ a b "Regele Carol I". Familia Regala (bằng tiếng Romania). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2019.
  3. ^ a b Kaliani, Mira (ngày 19 tháng 4 năm 2018). "Regele Carol I, așa cum l-au descris câțiva dintre cei care l-au cunoscut". Ediția de Dimineață. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2019.
  4. ^ a b Kerr, Anne; Wright, Edmund (2015) [2000]. A Dictionary of World History (bằng tiếng Anh) . Oxford and New York: Oxford University Press. tr. 118. ISBN 9780199685691.
  5. ^ a b Buenviaje, Dino E. (2014). "Carol I, King of Romania". Trong Tucker, Spencer C. (biên tập). World War I: The Definitive Encyclopedia and Document Collection [5 volumes]: The Definitive Encyclopedia and Document Collection (bằng tiếng Anh). Santa Barbara, Ca, Denver, CO and Oxford: ABC-CLIO. tr. 350–351. ISBN 9781851099658.
  6. ^ Year: 1880-1881; Weight: 25 gam; Composition: Silver 90%; Diameter: 37 mm; Amount of coins minted: 2,200,000 coin - https://en.numista.com/catalogue/pieces5742.html
  7. ^ Leuștean, Lucian (2014). Orthodox Christianity and Nationalism in Nineteenth-century Southeastern Europe (bằng tiếng Anh). New York: Oxford University Press. tr. 116. ISBN 9780823256068.
  8. ^ Rapport, Michael (2005). Nineteenth-Century Europe (bằng tiếng Anh). Basingstoke, New York: Macmillan International Higher Education. tr. 193–194. ISBN 9780230204768.[liên kết hỏng]
  9. ^ Hitchins, Keith (1994). Romania. The Oxford History of Modern Europe (bằng tiếng Anh). Oxford and New York: Clarendon Press. tr. 19. ISBN 9780198221265.
  10. ^ Ionescu, Sinziana (ngày 17 tháng 3 năm 2016). "Povestea regelui "ratat" de România. Cine este prinţul Filip, propus înainte de Carol I să conducă Principatele Române". Adevărul. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2019.
  11. ^ a b Leustean, Lucian N. (2009). Orthodoxy and the Cold War: Religion and Political Power in Romania, 1947-65 (bằng tiếng Anh). Basingstoke and New York: Springer. tr. 29. ISBN 9780230594944.
  12. ^ Grancea, Florin (2006). Inside the Mechanisms of Romanian Modernization: The Transformation of Public Sphere Between Media and Political System (bằng tiếng Anh). Charleston, SC: BookSurge. tr. 24. ISBN 9781419639692.
  13. ^ a b c d Badea-Paun, Gabriel (2014). Carmen Sylva. Uimitoarea regina Elisabeta a Romaniei (bằng tiếng Anh). Bucharest: Humanitas. ISBN 9789735047856.
  14. ^ a b Hitchins, Keith (2011). Ionel Brătianu: Romania. Makers of the Modern World: The Peace Conferences of 1919-23 and their Aftermath (bằng tiếng Anh). London: Haus Publishing. ISBN 9781907822186.
  15. ^ Lessner, Erwin Christian (1973) [1961]. The Danube: The Dramatic History of the Great River and the People Touched by Its Flow (bằng tiếng Anh). Garden City, New York: Greenwood Press. tr. 451. ISBN 9780837164403.
  16. ^ a b Lindenberg, Paul (2016). "IV: Călătoria spre România și sosirea la București". Regele Carol I al României (bằng tiếng Anh). Bucharest: Humanitas SA. ISBN 9789735053369.
  17. ^ Seton-Watson, Robert William (1934). A History of the Roumanians: From Roman Times to the Completion of Unity (bằng tiếng Anh). Cambridge: Cambridge University Press. tr. 317.
  18. ^ a b Mihai, Dana (ngày 7 tháng 4 năm 2016). "Cinci lucruri puţin ştiute despre regele Carol I. De ce le dădea suveranul doar un deget supuşilor care-i întindeau mâna". Adevărul. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2019.
  19. ^ Mazower, Mark (2002) [2000]. The Balkans: From the End of Byzantium to the Present Day. London: Phoenix. tr. 1–176. ISBN 9781842125441.
  20. ^ Hriscu, Marius (tháng 1 năm 2010). "The Romanian Constitution of 1866. Modernism and European Spirit". Petre Andrei University Year-Book (Social Work, Sociology, Psychology). 1 (5). Iași, Romania: 346–354.
  21. ^ a b Hentea, Călin (2007). Brief Romanian Military History. Scarecrow Press. tr. 102. ISBN 9780810858206. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2014.
  22. ^ a b Damean, Liviu (ngày 28 tháng 6 năm 2016). "Semnificația și importanța istorică a Constituției române de la 1866". Timpul. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  23. ^ a b "Full Text of the Romanian Constitution of 1866". www.cdep.ro (bằng tiếng Romania). ngày 1 tháng 6 năm 1866. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  24. ^ Scurtu, Ioan (2011). Politică şi viaţă cotidiană în România: în secolul al XX-lea şi începutul celui de-al XXI-lea (bằng tiếng Romania). București: Editura Mica Valahie. tr. 10. ISBN 9786068304342.
  25. ^ Ionescu, Sinziana (ngày 3 tháng 3 năm 2016). "Principesa Margareta, succesoare şi la tronul britanic. Viitorul monarhiei române după retragerea Regelui Mihai". Adevărul. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  26. ^ Docea, Vasile (2001). Carol I și monarhia constituțională. Interpretări istorice (bằng tiếng Romania). Timișoara, Romania: Presa Universitară Română. tr. 96–121. doi:10.13140/RG.2.1.2160.0080. ISBN 9738063760.
  27. ^ a b c Kellogg, Frederick (1995). The Road to Romanian Independence (bằng tiếng Anh). West Lafayette, IN: Purdue University Press. tr. 77. ISBN 9781557530653.
  28. ^ McArthur Kallestrup, Shona (tháng 5 năm 2005). "'A Sort of Tropical Balmoral': King Carol and cultural transplant in Castle Peleș". Centropa: A Journal of Central European Architecture and Related Arts. 5 (2).
  29. ^ Ozanne, James William (2015) [1878]. Trei ani in Romania (1870–1873) (bằng tiếng Anh). Bucharest: Humanitas. ISBN 9789735049232.
  30. ^ a b Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :5
  31. ^ Trencsenyi, Balazs; Kopecek, Michal (2006). National Romanticism: The Formation of National Movements: Discourses of Collective Identity in Central and Southeast Europe 1770–1945 (bằng tiếng Anh). Quyển II: National Romanticism – The Formation of National Movements. Budapest & New York: Central European University Press. tr. 373. ISBN 9789637326608.
  32. ^ Sluglett, Peter (2011). War and Diplomacy: The Russo-Turkish War of 1877–1878 and the Treaty of Berlin (bằng tiếng Anh). Salt Lake City, UT: University of Utah Press. ISBN 9781607811503.
  33. ^ a b c d Boia, Lucian (2001). Romania: Borderland of Europe (bằng tiếng Anh). London: Reaktion Books. tr. 90–92. ISBN 9781861891037.
  34. ^ Bucur, Maria (2010). Heroes and Victims: Remembering War in Twentieth-Century Romania (bằng tiếng Anh). Bloomington: Indiana University Press. tr. 110. ISBN 9780253003911.
  35. ^ Gârlan, Mictat A. (2011). Metodologia cercetarii etnopsihologice (bằng tiếng Romania). Iași, Romania: Editura Lumen. tr. 166. ISBN 9789731662671.
  36. ^ Barry, Quintin (2012). War in the East: A Military History of the Russo-Turkish War 1877–78 (bằng tiếng Anh). Havertown: Helion and Company. tr. 430. ISBN 9781907677113.
  37. ^ Tucker, Spencer C. (2016). The Roots and Consequences of 20th-Century Warfare: Conflicts that Shaped the Modern World: Conflicts That Shaped the Modern World (bằng tiếng Anh). Santa Barbara, CA; Denver, CO and Oxford: ABC-CLIO. tr. 31. ISBN 9781610698023.
  38. ^ Neacșu, Dana (2014). "Romania". Trong Gaebler, Ralph; Shea, Alison (biên tập). Sources of State Practice in International Law (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 2). Leiden & Boston: Martinus Nijhoff Publishers. tr. 406. ISBN 9789004272224.
  39. ^ a b Nyagulov, Blagovest (2012). "Ideas of federation and personal union with regard to Bulgaria and Romania". Bulgarian Historical Review (3–4): 36–61. ISSN 0204-8906.
  40. ^ Oneț, Valentina (tháng 12 năm 2012). "O litografie document istoric: Actul de încoronare a Regelui Carol I – Actul proclamării Regatului României (10/22 Mai 1881) (II)" (PDF). Axis Libri. 17. V.A. Urechia County Library Galați: 4–5.
  41. ^ Teică, Liliana (ngày 10 tháng 5 năm 2014). "10 mai. Sosirea lui Carol, Independenţa şi Regatul". Romanian Television. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2019.
  42. ^ Hayes, Carlton Joseph Huntley (1958). Contemporary Europe Since 1870 (bằng tiếng Anh). New York: Macmillan. tr. 178.
  43. ^ Wallbank, Thomas Walter (1949). Civilization Past and Present: A Survey of the History of Man, His Governmental, Economic, Social, Religious, Intellectual, and Esthetic Activities, From the Earliest Times to the Present, in Europe, in Asia, and in the Americas (bằng tiếng Anh). Chicago: Scott, Foresman. tr. 207.
  44. ^ Hălălău, Florin (ngày 6 tháng 10 năm 2016). "'Revenirea Coroanei de Oţel în stema de stat a României este un fapt cultural': Interviu cu Silviu Andrieș–Tabac". Observator Cultural. 843.
  45. ^ "104 ani de la moartea Regelui Carol I. Trei lucruri mai puțin știute despre "regele care își purta coroana și în somn"". Antena 1. ngày 10 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2019.
  46. ^ Berger, Stefan; Lorenz, Chris; Melman, Billie (2012). "Introduction: Peleș Castle". Trong Berger, Stefan; Melman, Billie; Lorenz, Chris (biên tập). Popularizing National Pasts: 1800 to the Present (bằng tiếng Anh). New York and London: Routledge. tr. 1. ISBN 9781136592881.
  47. ^ Ivanyi, Miklos; Băncilă, Radu (2014). "Twenty Years Devoted to International Conferences on Bridges Across Danube". Trong Petzek, Edward; Băncilă, Radu (biên tập). The Eight International Conference "Bridges in Danube Basin": New Trends in Bridge Engineering and Efficient Solutions for Large and Medium Span Bridges (bằng tiếng Anh). Wiesbaden, Germany: Springer Science & Business Media. tr. 13. ISBN 9783658037147.
  48. ^ Fierbințeanu, Virgil; Teodorescu, Dragoș; Băncilă, Radu (1999). "Seismic Behaviour of the Romanian Danube Bridges". Trong Dubină, Dan; Iványi, Miklós (biên tập). Stability and Ductility of Steel Structures: Proceedings of the 6th International Colloquium (SDSS'99) (bằng tiếng Anh). Amsterdam, Lausanne, New York, Oxford, Shannon, Singapore, Tokyo: Elsevier. tr. 592. ISBN 9780080552927.
  49. ^ Iancu, Mariana (ngày 14 tháng 9 năm 2016). "Secretele podului de la Cernavodă, opera tânărului inginer Anghel Saligny. Episodul luptelor aeriene ale lui Horia Agarici, salvatorul Constanţei". Adevărul. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2019.
  50. ^ Berend, Ivan T. (2003). History Derailed: Central and Eastern Europe in the Long Nineteenth Century (bằng tiếng Anh). Berkeley, CA, Los Angeles, CA and London: University of California Press. tr. 244. ISBN 9780520245259.
  51. ^ Silberstein, Gerard E. (1970). The Troubled Alliance: German-Austrian Relations, 1914--1917 (bằng tiếng Anh). Lexington, Kentucky: University Press of Kentucky. tr. 31. ISBN 9780813164618.
  52. ^ Middleton, John (2015). World Monarchies and Dynasties (bằng tiếng Anh). Abingdon and New York: Routledge. tr. 796. ISBN 9781317451587.
  53. ^ Grancea, Florin (2006). Inside the Mechanisms of Romanian Modernization: The Transformation of Public Sphere Between Media and Political System (bằng tiếng Anh). Scotts Valley, CA: Florin Grancea. tr. 25. ISBN 9781419639692.
  54. ^ Hall, Richard C. (2014). War in the Balkans: An Encyclopedic History from the Fall of the Ottoman Empire to the Breakup of Yugoslavia (bằng tiếng Anh). Santa Barbara, CA, Denver, CO and Oxford: ABC-CLIO. tr. 241. ISBN 9781610690317.
  55. ^ Despot, Igor (2012). The Balkan Wars in the Eyes of the Warring Parties: Perceptions and Interpretations (bằng tiếng Anh). Bloomington, IN: iUniverse. tr. 149–155. ISBN 9781475947038.
  56. ^ Becker, Jean-Jacques (2012). "Chapter Fourteen: War Aims and Neutrality". Trong Horne, John (biên tập). A Companion to World War I. Blackwell Publishing. tr. 208. ISBN 9781405123860. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2014.
  57. ^ a b Hall, Richard C. (2003). "Bulgaria, Romania, and Greece". Trong Hamilton, Richard F.; Herwig, Holger H. (biên tập). Decisions for War, 1914–1917 (bằng tiếng Anh). Cambridge and New York: Cambridge University Press. tr. 401. ISBN 9780521545303.
  58. ^ Kast, Sheilah; Rosapepe, Jim (2009). Dracula is Dead: How Romanians Survived Communism, Ended It, and Emerged Since 1989 as the New Italy (bằng tiếng Anh). Baltimore, MD: Bancroft Press. tr. 119. ISBN 9781890862657.
  59. ^ Zirin, Mary; Livezeanu, Irina; Worobec, Christine D.; Farris, June Pachuta (2015). Women and Gender in Central and Eastern Europe, Russia, and Eurasia: A Comprehensive Bibliography Volume I: Southeastern and East Central Europe (Edited by Irina Livezeanu with June Pachuta Farris) Volume II: Russia, the Non-Russian Peoples of the Russian (bằng tiếng Anh). New York and London: Routledge. tr. 332. ISBN 9781317451976.
  60. ^ Commire, Anne; Klezmer, Deborah (2000). Women in World History (bằng tiếng Anh). Quyển 5: EAD-FUR. Waterford, CT: Yorkin Publications. tr. 169. ISBN 9780787640644.
  61. ^ Hall, Richard C. (2005). "Ferdinand I, King of Romania (1865–1927)". Trong Tucker, Spencer; Roberts, Priscilla Mary (biên tập). World War I: A Student Encyclopedia (bằng tiếng Anh). Santa Barbara, CA, Denver, CO and Oxford: ABC-CLIO. tr. 666–667. ISBN 9781851098798.
  62. ^ "Carol I | Encyclopedia.com". www.encyclopedia.com. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2022.
  63. ^ a b Boia, Lucian (2001) [1997]. History and Myth in Romanian Consciousness (bằng tiếng Anh). Budapest: Central European University Press. tr. 200–201. ISBN 9789639116979.
  64. ^ Gârneaţă, Alexandru (1960). Adevărata istorie a unei monarhii. Familia Hohenzollern. Bucharest: Editura Cartea Românească. tr. 93.
  65. ^ Anescu, V.; Popa, M. (1958). Jefuirea poporului român de către monarhie. Bucharest: Editura Militară a Ministerului Forţelor Armate ale R.P.R. tr. 48.
  66. ^ a b Lupșor, Andreea (ngày 4 tháng 7 năm 2017). "Carol I, la judecata istoricilor comunişti". Historia. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  67. ^ Crăciun, Andrei (ngày 26 tháng 6 năm 2017). "Lupta pentru modernizarea României. Cazul "Carol I"". Historia. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  68. ^ Lupșor, Andreea. "Cum și-l amintesc românii pe Carol I". Historia. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  69. ^ "Mari Români". mariromani.ro. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  70. ^ "Colegiul National "Carol I"". www.cnc.ro. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  71. ^ "UNAp – ACASA". www.unap.ro. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  72. ^ "Biblioteca Centrala Universitara "Carol I"". www.bcub.ro. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  73. ^ "ODM of Romania: Order of Carol I". www.medals.org.uk. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  74. ^ "Ordinul Carol I". Familia Regala (bằng tiếng Romania). Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019.
  75. ^ Piersall, Mark. "Order of the Crown of Romania "Ordinul Coroana Romaniei" 1881–1947". The Piersall Collection of Orders, Decorations, and Medals From Around The World. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2017.
  76. ^ "Ordinul Carol I" [Order of Carol I]. Familia Regală a României (bằng tiếng Romania). Bucharest. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2020.
  77. ^ a b Hof- und Staats-Handbuch des Königreich Preußen (1908), Genealogy p. 6
  78. ^ Hof- und Staats-Handbuch des Herzogtum Anhalt (1867) "Herzoglicher Haus-orden Albrecht des Bären" p. 18
  79. ^ a b c "Ritter-Orden", Hof- und Staatshandbuch der Österreichisch-Ungarischen Monarchie, 1913, tr. 44, 49, 61, truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2020
  80. ^ Hof- und Staats-Handbuch des Großherzogtum Baden (1873), "Großherzogliche Orden" pp. 60, 74
  81. ^ Hof- und Staats-Handbuch des Königreich Bayern (1906), "Königliche Orden" p. 7
  82. ^ Almanach royal officiel de Belgique. Librairie polytechnique De Decq. 1870. tr. 53.
  83. ^ Hof- und Staatshandbuch des Herzogtums Braunschweig für das Jahr 1897. Braunschweig 1897. Meyer. p. 10
  84. ^ "Knights of the Order of Saints Cyril and Methodius". Official Site of King Simeon II (bằng tiếng Bulgaria). Sofia. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2019.
  85. ^ "Knights of the Order of Bravery" (bằng tiếng Bulgaria). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010.
  86. ^ Jørgen Pedersen (2009). Riddere af Elefantordenen, 1559–2009 (bằng tiếng Đan Mạch). Syddansk Universitetsforlag. tr. 468. ISBN 978-87-7674-434-2.
  87. ^ Staatshandbücher für das Herzogtum Sachsen-Coburg und Gotha (1890), "Herzogliche Sachsen-Ernestinischer Hausorden" p. 46
  88. ^ "Familia Regala". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2020.
  89. ^ Hof- und Staats-Handbuch des Großherzogtum Hessen (1879), "Großherzogliche Orden und Ehrenzeichen" p. 12
  90. ^ Italia : Ministero dell'interno (1898). Calendario generale del Regno d'Italia. Unione tipografico-editrice. tr. 54.
  91. ^ "Königlich Preussische Ordensliste", Preussische Ordens-Liste (bằng tiếng German), 1, Berlin: 8, 15, 22, 934, 1886 – qua hathitrust.org{{Chú thích}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  92. ^ a b "Carol I of Romania and the Award Confusion". militaire.vieux-grognard.net (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2020.
  93. ^ Staatshandbuch für das Großherzogtum Sachsen / Sachsen-Weimar-Eisenach Lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2020 tại Wayback Machine (1885), "Großherzogliche Hausorden" p. 16
  94. ^ Sachsen (1901). "Königlich Orden". Staatshandbuch für den Königreich Sachsen: 1901. Dresden: Heinrich. tr. 4 – qua hathitrust.org.
  95. ^ "Real y distinguida orden de Carlos III", Guía Oficial de España (bằng tiếng Tây Ban Nha), 1887, tr. 149, truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2019
  96. ^ Sveriges Statskalender (bằng tiếng Thụy Điển), 1905, tr. 440, truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018 – qua runeberg.org
  97. ^ Norges Statskalender (bằng tiếng Na Uy), 1890, tr. 356, truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018 – qua runeberg.org
  98. ^ Shaw, Wm. A. (1906) The Knights of England, I, London, p. 69
  99. ^ Hof- und Staats-Handbuch des Königreich Württemberg (1907), "Königliche Orden" p. 28

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Keith Hitchins, Rumania 1866–1947 (Oxford University Press, 1994).
  • Boris Crǎciun – "Regii și Reginele României", Editura Porțile Orientului, Iași

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
Carol I của România
Nhánh thứ của Nhà Hohenzollern
Sinh: 20 tháng 4 , 1839 Mất: 10 tháng 10 , 1914
Tước hiệu
Tiền nhiệm
Himself as Domnitor
Vua của Romania
15 tháng 3 năm 1881 - 10 tháng 10 năm 1914
Kế nhiệm
Ferdinand I
Tiền nhiệm
Alexandru Ioan Cuza
Thân vương của Romania
20 tháng 4 năm 1866 - 15 tháng 3 năm 1881
Kế nhiệm
Himself as King