Chuông Quy Điền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Chuông Quy Điền Chuông Quy Điền (chuông ruộng rùa) là một quả chuông được xếp vào An Nam tứ đại khí, bảo vật của Đại Việt thời Lý. Chuông Quy Điền được đúc trong lần sửa lại chùa Diên Hựu (chùa Một Cột, Hà Nội) vào tháng 2 năm Canh Thân (1080) đời Lý Nhân Tông. Để đúc quả chuông này, vua Lý Nhân Tông đã cho sử dụng đến 12.000 cân đồng (tương đương với 7,3 tấn đồng bây giờ). Chuông đúc xong, đánh không kêu, nhưng cho rằng nó đã thành khí, không nên tiêu hủy, nhà vua bèn sai người vần ra khu ruộng sau chùa.

Vì khu ruộng này thấp trũng, có nhiều rùa đến ở, nên có tên là Quy Điền (ruộng Rùa),), nhân đó gọi chuông là chuông Quy Điền (theo Nguyễn Văn Tân, tác giả Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam thì lúc đầu chuông có tên là Giác Thế. Đúc xong, vì quá nặng không có chỗ treo, buộc phải để úp xuống đất và sau khi được vần ra ruộng Rùa, thì mới có tên là chuông Quy Điền nhân đó gòi chuông là chuông Quy Điền). Tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), chuông Quy Điền đã bị Vương Thông (nhà Minh) cho phá hủy để chế súng đạn, hỏa khí và làm kiếm.

chuông Quy Điền là một trong những tứ đại thần khí. người ta chưa phát hiện trên chuông khắt gì hình như là chữ <đại ngu>

An Nam tứ đại khí[1], là bốn kỳ quan, bốn vật quốc bảo và là bốn công trình nghệ thuật bằng đồng nổi tiếng của văn hóa thời Lý, Trần bao gồm:

-          Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm[2] (Chùa Quỳnh Lâm, Đông Triều, Quảng Ninh);

-          Tháp Báo Thiên ở Thăng Long (Hà Nội)

-          Chuông Quy Điền (chuông ruộng rùa) ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), Hà Nội

-          Vạc Phổ Minh[3] ở chùa Phổ Minh, Thiên Trường (Nam Định). Mặc dù đều là những vật quốc bảo song khi giặc Minh sang xâm chiếm nước ta, tứ đại khí đều bị cướp hoặc phá huỷ để lấy đồng đúc vũ khí và nhằm làm mất đi một phần "nguyên khí" của người Việt Vậy đó là một lối kiến trúc của Việt Nam vào thế kỷ 10-11. Sách cũ chép là vào năm 1049, đời Lý Thái Tông, xây chùa Một Cột:

Chuông Quy Điền (chuông ruộng rùa) là một quả chuông được xếp vào An Nam tứ đại khí, bảo vật của Đại Việt thời Lý.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép:

Canh Thân, Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ 5 [1080], (Tống Nguyên Phong năm thứ 31). Mùa xuân, tháng 2, đúc chuông lớn cho chùa Diên Hựu. Chuông đúc xong, đánh không kêu, nhưng cho rằng nó đã thành khí, không nên tiêu hủy, bèn đem bỏ ở Quy Điền [ruộng rùa] của chùa. Ruộng ấy, thấp ướt, có nhiều rùa, người bấy giờ gọi là chuông Quy Điền.

Tương truyền, vua Lý Nhân Tông đã cho sử dụng đến 12.000 cân đồng (tương đương với 7,3 tấn đồng bây giờ) để đúc chuông.

Tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), nước Đại Ngu bị nhà Minh xâm chiếm. Chuông Quy Điền đã bị Vương Thông cho phá hủy để chế súng đạn, hỏa khí.[1]

Chuông Quy Điền (chuông ruộng rùa) là một quả chuông được xếp vào An Nam tứ đại khí, bảo vật của Đại Việt thời Lý.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư có chép:

Tương truyền, vua Lý Nhân Tông đã cho sử dụng đến 12.000 cân đồng (tương đương với 7,3 tấn đồng bây giờ) để đúc chuông.

Tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), nước Đại Ngu bị nhà Minh xâm chiếm. Chuông Quy Điền đã bị Vương Thông cho phá hủy để chế súng đạn, hỏa khí.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]