Lý Công Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lý Công Bình (chữ Hán: 李公平, ? - ?) là một tướng lĩnh, đại thần nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông có công đánh bại hai cuộc tấn công của quân đội Chân Lạp (Đế quốc Khmer hay vương triều Angkor) vào năm 11281137, thời vua Lý Thần Tông.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Công Bình không rõ quê quán. Ông xuất hiện lần đầu trong sử với sự kiện năm 1128, khi quân Chân Lạp (Đế quốc Khmer) sang xâm chiếm Nghệ An. Khi đó Lý Công Bình đang giữ chức Nhập nội Thái phó.

Sau khi người Việt giành lại độc lập từ Trung Hoa thì hai chính quyền Đại Việt với Angkor đã có nhiều lần giao thiệp. Trong đó, phía Angkor ở bổn phận một nước chư hầu, phải thực hiện nghĩa vụ triều cống với Đại Việt.[1][2] Năm 1113, Suryavarman II, được xem là một trong vị vua vĩ đại nhất của triều đại Angkor lên ngôi vua. Suryavarman II sau đó đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh và xâm lược để mở rộng lãnh thổ. Đối với Đại Việt, trong thời gian mới nắm quyền lực, Suryavarman II vẫn duy trì sứ giả sang cống nạp một lần năm 1120.[2]

Tháng 1 (ÂL) năm 1128, nhân lúc vua Lý Nhân Tông mới mất, Thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi khi mới 12 tuổi[3], Suryavarman II cho 20.000 quân sang tấn công bến Ba Đầu thuộc châu Nghệ An[4]. Triều đình nhà Lý cử Nhập nội Thái phó Lý Công Bình điều động các đô quan chức đi đánh dẹp. Đến tháng 2 (ÂL), Lý Công Bình đại phá quân Chân Lạp, gửi thư báo thắng trận về kinh thành Thăng Long. Lý Thần Tông đến các cung Thái Thanh, Cảnh Linh và các chùa quán trong thành để lễ tạ ơn PhậtĐạo đã giúp ngầm cho Công bình đánh được người Chân Lạp. Đến tháng 3 (ÂL), Lý Công Bình về kinh thành, dâng số tù nhân bắt được là 169 người.[2]

Sau đó Suryavarman II còn 2 lần tấn công đất Nghệ An của Đại Việt (tháng 8 năm 1128 và năm 1132) nhưng đều bị đánh bại và đến năm 1135, Chân Lạp buộc phải triều cống Đại Việt trở lại.[2]

Cuối năm 1135 và năm 1136, các đại thần nhà Lý là Trương Bá Ngọc (Lê Bá Ngọc), Lưu Khánh Đàm, Dương Anh Nhĩ lần lượt qua đời, Mâu Du Đô thì bị bãi chức[2] Triều đình nhà Lý mất đi nhiều trụ cột. Tháng 1 (ÂL) năm 1137, Suryavarman II lần thứ tư đem quân sang đánh Đại Việt, cho tướng Tô Phá Lăng tấn công Nghệ An. Lý Công Bình khi đó đang giữ chức Thái úy được cử đi đánh dẹp. Đến tháng 2 (ÂL), trước đó Nghệ An xảy ra động đất và nước sông hiện màu đỏ như máu, Lý Công Bình báo cáo về triều đình, sau đó đem quân đánh bại quân đội Chân Lạp.[2]

Sử sách không ghi chép gì về việc phong thưởng sau khi thắng trận.

Về Lý Công Bình, sau đó sử sách cũng không nhắc đến ông. Không rõ ông mất vào năm nào, đến năm 1141[5] (5 năm sau thắng lợi Chân Lạp lần thứ 4), người giữ chức Thái úy dưới thời vua mới Lý Anh TôngĐỗ Anh Vũ[6]. Về phía Chân Lạp, năm 1150, quân đội Khmer một lần nữa đem quân sang tấn công Nghệ An, đến núi Vụ Thấp (nay là núi Vụ Quang, huyện Vũ Quang[7]) thì tự tan rã. Từ đó Chân Lạp duy trì triều cống Đại Việt đến hết thời nhà Lý.[5]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn về việc vua làm lễ tạ hơn trời đất và Đạo mà không ban thưởng công trạng tướng sĩ, đặc biệt là Lý Công Bình, sử gia Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt sử ký toàn thư[2][8]:

Sau này, trong Việt sử giai thoại, Nguyễn Khắc Thuần cũng nhận định như sau[8]:

Trạng nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một số nguồn tư liệu địa phương ở Vĩnh Phúc thì Lý Công Bình là Phạm Công Bình, người xã An Lạc, huyện Yên Lạc, phủ Tam Đái, Sơn Tây (nay là thôn Yên Lạc, xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc)[9]. Đồng thời theo nguồn này thì Phạm Công Bình đỗ Trạng nguyên (hoặc Thủ khoa sau được thờ tự với danh hiệu Trạng nguyên) khoa Mậu Thìn niên hiệu Trinh Khánh thứ 3 đời Lý Huệ Tông.

Nguồn này lý giải việc này là do Lý Công Bình vốn họ Phạm sau được ban quốc tính (họ Lý), đến thời Trần phải kiêng húy Trần Lý nên sử ghi là Nguyễn Công Bình[9]. Tuy nhiên thời vua Lý Huệ Tông không hề có năm Mậu Thìn cũng như niên hiệu là Kiến Gia. Do đó một số nguồn cho rằng Phạm Công Bình đỗ năm Kiến Gia thứ 3 (1214). Thế nhưng điều này lại mâu thuẫn vì Lý Công Bình là nhân vật sống vào nửa đầu thế kỷ XII mà thời Kiến Gia là đầu thế kỷ XIII.

Có nguồn khác cho rằng Phạm Công Bình thi đỗ vào năm 1123, tức năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 4 thời Lý Nhân Tông[10]. Tuy nhiên, tất cả các chính sử đều không ghi chép gì về khoa cử tại hai năm 1123 và 1214. Vì thế, Lý Công Bình, Phạm Công Bình, Nguyễn Công Bình có phải là một người hay không còn rất nhiều nghi vấn.[11]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chân Lạp lần đầu tiên sai sứ sang cống nạp Đại Cồ Việt vào năm 1012, dưới triều vua Lý Thái Tổ[1]. Theo Đinh Công Vĩ trong Bên lề chính sử, trong suốt triều Lý, Chân Lạp sang cống tổng cộng 11 lần.
  2. ^ a ă â b c d đ Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư Quyển III
  3. ^ Lý Thần Tông sinh năm 1116
  4. ^ Briggs, "The Ancient Khmer Empire," tr.192
  5. ^ a ă Đại Việt Sử Ký Bản Kỷ Toàn Thư Quyển IV
  6. ^ Đại Việt sử lược, quyển 3, tr 200
  7. ^ [2]
  8. ^ a ă Nguyễn Khắc Thuần (2005), Việt sử giai thoại, Tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 42.
  9. ^ a ă Danh nhân - Phạm Công Bình
  10. ^ Khánh thành Đền thờ Trạng nguyên Phạm Công Bình
  11. ^ Quan trạng Phạm Công Bình (thế kỷ XIII) ở thôn An Lạc - Đồng Văn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt sử ký toàn thư
  • Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 1993
  • Briggs, Lawrence Palmer. The Ancient Khmer Empire. Transactions of the American Philosophical Society, Volume 41, Part 1. 1951
  • Nguyễn Khắc Thuần (2005), Việt sử giai thoại, Tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đinh Công Vĩ (2005), Bên lề chính sử, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]