Bình Ngô đại cáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bình Ngô đại cáo (chữ Hán: 平吳大誥) là bài cáo của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Định vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt.

Bình Ngô đại cáoBình Ngô đại cáoBình Ngô đại cáoBình Ngô đại cáo
Nguyên văn (Hán văn) "Bình Ngô đại cáo"

Kết cấu tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Kết cầu bài cáo gổm 5 đoạn:

  • Đoạn 1: Từ đầu... đến Chứng cứ rành rành. : Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lí về chủ quyền độc lập của quốc gia Đại Việt.
  • Đoạn 2: Từ Vừa rồi... đến Trời đất chẳng dung tha. : Tố cáo và kết án tội ác tày trời của giặc Minh.
  • Đoạn 3: Từ Ta đây... đến Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ: Hình ảnh của vị lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn và những khó khăn trong buổi đầu dấy nghiệp.
  • Đoạn 4: Từ Rốt cuộc: Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, ... đến Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy: Quá trình mười năm kháng chiến và thắng lợi vẻ vang.
  • Đoạn 5: Phẩn còn lại: Khẳng định ý nghĩa to lớn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn vả lời tuyên bố hoà bình.[1]

Dịch âm[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Thiên hành Hóa, Hoàng-thượng nhược viết:

Nhân, nghĩa chi cử, vụ tại an dân.

Điếu phạt chi sư, mạc tiên khứ bạo,

Duy ngã Đại Việt chi quốc,

Thực vi Văn-hiến chi bang.

Sơn, xuyên chi phong vực ký thù.

Năm Bắc chi phong tục diệc dị.

Việt Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc;

Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương.

Tuy cường, nhược thời hoặc bất đồng,

Nhi hào-kiệt thế vị thường phạp.

Cố Lưu Cung tham công nhi thủ bại.

Triệu Tiết hiếu đại nhi xúc vong;

Toa Đô kỳ cầm ư Hàm-tử quan;

Mã Nhi hựu ế ư Bạch-đằng hải.

Kê chư vãng-cổ,

Quyết hữu Minh-trưng.

Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền-hà,

Trí sử nhân-tâm chi cán-bạn.

Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân;

Ngụy-đảng hoài gian, cánh dĩ mãi ngã quốc!

Phiến thương-sinh ư ngược diệm;

Hãm xích-tử ư họa khanh!

Khi thiên, võng dân, quỷ kế cái thiên-vạn trạng!

Liên binh, kết hấn, nẫm ác đãi nhị thập-niên!

Bại nghĩa, thương nhân, Kiền-khôn cơ-hồ dục tức!

Trọng khoa, hậu liễm, sơn trạch mỹ-hữu nghiết-đi!

Khai Kim trường tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa!

Thái minh châu tắc xúc giao long nhi cắng yêu xám hải!

Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hạm tịnh!

Điễn vật chức thúy cầm chi võng-la!

Côn-trùng, thảo-mộc, hàm bất đắc dĩ an kỳ sở;

Tuấn sinh-linh chi huyết, dĩ nhuật kiệt-hiệt chi vẩn nha?

Cực thổ, mộc chi công, dĩ sùng công, tư chi giải vũ!

Chân lý chi chinh, dao trụng khốn!

Lư-diêm chi trữ, trục giai không!

Quyết Đông-hải chi ba, bất túc dĩ trạc kỳ ô!

Khánh Nam-sơn chi trúc, bất túc dĩ thư kỳ ác!

Thần, nhân chi sở cộng phẫn!

Thiên địa chi sở bất dong!

Dư, phấn tích Lam-sơn,

Thê thân hoang-dã;

Niệm quốc thù khởi khả cộng đái.

Thệ nghịch-tặc nan dữ câu sinh!

Thống tâm, tật thủ giả, thùy thập dư niên!

Ngọa tần, thường đỏm giả, cái phi nhất nhật!

Phát phẫm vong thực, mỗi nghiên đàm Thao-lược chi thư;

Tức cổ, nghiệm kim, tế suy cứu hưng, vong chi lý.

Đồ hồi chi chi,

Mụ-my bất vong!

Đương nghĩa binh sơ khởi chi thì,

Chính tặc thế phương trương chi nhật.

Nại dĩ: nhân-tài thu diệp!

Tuấn-kiệt thần tinh?

Bôn, tấu tiên, hậu giả ký phạp kỳ nhân!

Mưu-mô duy-ác giả hựu quả kỳ trợ!

Đặc-dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục Đông!

Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp nhi hư Tả!

Nhiên kỳ: đắc nhân chi hiệu, mang nhược vọng dương!

Do kỷ chi tâm, thâm ư chửng nịch!

Phẫn hung-đồ chi vị diệt;

Niệm quốc bộ chi do chuân;

Linh-sơn chi thực tận kiêm tuần!

Côi-huyện chi chúng vô nhất lữ!

Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm.

Cố dư ích lệ chi dĩ tế vu gian!

Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập!

Đầu giao hưởng sĩ, phụ-tử chi binh nhất tâm!

Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị.

Dĩ quả địch chúng, thường thiết phục dĩ xuất kỳ!

Tốt năng dĩ đại nghĩa nhi diệt hung-tàn;

Dĩ chí nhân nhi địch cường-bạo.

Bồ-đằng chi đình khu điện xiết!

Trà-lân chi trúc phá, hôi phi!

Sĩ khi dĩ chi ích tăng!

Quân thanh dĩ chi đại chấn!

Trần Trí, Sơn Thọ chi đồ, văn phong nhi trĩ phách!

Lý An, Phương Chính chi bối, giả tức dĩ thâu sinh!

Thừa thắng trường khu, Tây-kinh ký vi ngã hữu.

Tuyển phong tiến thủ, Đông-đô tận phục cựu cương.

Ninh-kiều chi huyết thành xuyên, lưu tính vạn lý!

Tốt-động chi thi mãn dã, di xú thiên niên!

Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, ký cưu kỳ thủ!

Lý Lương tặc chi gian tố, hựu bộc quyết thi!

Vương Thông lý loạn nhi phần giả ích phần!

Mã Ánh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ!

Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong!

Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất!

Vị bỉ bất địch tâm nhi cải lự.

Khởi ý phục tác nghiệt dĩ tốc cô!

Chấp nhất kỷ chi kiến nhi giá họa ư tha nhân;

Tham nhất thi chi công, nhi di tiếu ư thiên hạ!

Toại sử Tuyên-đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm!

Viên mạnh Thạch, Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần!

Đinh-vị cửu nguyệt, Liễu Thăng tự dẫn binh, do Ôn-khâu nhi tiến.

Bản niên thập nguyệt, Mộc Thạnh diệc phân đạo tự Vân-nam nhi lai.

Dư tiền ký tuyển phục tốt tắc hiểm, dĩ tồi kỳ phong;

Hậu hựu diệu kỳ binh tiệt lộ, dĩ đoạn kỳ thực.

Thập-bát nhật, Liễu Thăng kỳ vi ngã sở công, kế trụy ư Chi-lăng chi dã!

Nhị-thập nhật, Liễu Thăng hựu vi ngã sở bại thân tử ư Mã-yên chi sơn!

Nhị-thập-ngũ nhật, Bảo-định-bá Lương Minh trận hãm nhi táng khu!

Nhị-thập-bát nhật, Thượng-thư tào Lý Khánh, kế cùng nhi vẫn cảnh!

Ngã ký nghinh nhận nhi giải!

Bỉ tức đảo qua tương công!

Ký nhi tứ diện thiêm bình dĩ bao vi;

Ký dĩ thập-nguyệt trung tuần nhị điễu diệt.

Viên manh tỳ-hưu chi sĩ;

Thân sử trảo-nha chi thần;

Am-tượng nhi hà thủy cản!

Ma đao nhi sơn thạch khuyết!

Nhất cổ nhi kình khoa, ngạc đoạn!

Tái cổ nhi điểu tán, huân kinh!

Quyết hội nghĩ ư băng-đê!

Chấn cương-phong ư khô-diệp!

Đô-đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản!

Thượng-thư Hoàng Phúc diện phọc nhi tựu cầm!

Cương-thi tắc ư Lạng-sơn, Lạng-giang chi đồ!

Tiên huyết xích ư Xương-giang, Bình-than chi thủy!

Phong vân vị chi biến sắc!

Nhật, nguyệt thảm dĩ vô quang!

Kỳ Vân-nam binh vi ngã quân sở ách ư Lê-quan, tự đồng nghi, khư-át nhi tiên dĩ quá đởm!

Ký Mộc Thạnh đẳng vi ngã quân sở bại ư Cần-trạm, toại lạn tạ, bôn hội nhi cận đắc thoát thân!

Lãnh-câu chi huyết chử lưu, giang thủy vị chi ô yết!

Đan-xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng!

Lưỡng lộ cứu binh, ký bất toàn chủng nhi câu bại!

Các thành cùng khấu, suất tương giải pháp dĩ xuất hàng!

Tặc thủ thành cầm, bỉ ký trạo khốn thú khất liên chi vĩ!

Thần-vũ bất sát, dư tiệc thể Thượng-đế hiếu sinh chi tâm!

Tham-tướng Phương Chính, Nội-quan Mã Kỳ đẳng, tiên cấp thuyền ngũ bách dư sưu, ký độ hải nhi do thả hồn phi phách táng!

Tổng-binh Vương Thông, Tham-chính Mã Ánh đẳng, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật, tâm kinh!

Bỉ ký úy tử, tham sinh, nhi tu hiếu hữu thành.

Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dữ dăn đắc tức.

Phi duy kế mưu chi cực kỳ thâm-viễn;

Ức diệc cổ kim chi sở vị kiến-văn!

Xã-tắc dĩ chi điện-an.

Sơn xuyên dĩ chi cải quán.

Kiền-khôn ký bĩ nhi phục thái.

Nhật, Nguyệt, ký hối nhi phục minh.

Vu dĩ khai vạn thế thái-bình chi cơ!

Vu dĩ tuyết thiên-cổ vô cùng chi sỉ!

Cái do Thiên, Địa, Tổ, Tông chi linh hữu dĩ âm tướng, mặc-hựu nhi trí nhiên dã;

Ô-hô!

Nhất nhung đại định, bất thành vô cạnh chi công!

Từ hải vĩnh thành, đảm bá duy-tân chi cáo!

Bá cáo Thiên-hạ.

Hàm sử văn, tri! [2]

Bản dịch của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dẹp yên giặc Ngô, vua ban bố Đại cáo khắp thiên hạ. Toàn văn bài Đại cáo như sau:[3]

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu[4] phạt trước lo trừ bạo.

Xét như nước Đại Việt ta,

Thực là một một nước văn hiến.

Cõi bờ sông núi đã riêng,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương,

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau.

Song hào kiệt không bao giờ thiếu.

Cho nên:

Lưu Cung [5]tham công mà đại bại.

Triệu Tiết [6]thích lớn phải tan tành.

Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô,

Sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã[7]

Việc xưa xem xét,

Chứng cứ rành rành.

Vừa rồi:

Vì họ Hồ chính sự phiền hà,

Để đến nổi lòng người oán hận.

Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,

Bọn gian tà lại bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.

Dối trời lừa người, kế quỹ quyệt đủ muôn ngàn khoé.

Gây binh kết oán, tội chồng chất ngót hai mươi năm.

Tan nghĩa nát nhân, trời đất tưởng chừng muốn sập.

Sưu cao thuế nặng, núi chầm hết thảy sạch không.

Kẻ tìm vàng phá núi đãi bùn, lặn lội nơi lam chướng,

Người mò ngọc giòng gây quăng biển, làm mồi lũ giao long.

Nhiễu dân, đặt cạm bẫy hươu đen,

Hại vật, chăng lưới bắt chim trả.

Đến cỏ cây sâu bọ cũng chẳng được trọn đời,

Người goá bụa khốn cùng không một ai yên ổn.

Hút máu mủ sinh dân, quân gian ác miệng răng nhờn béo,

Dựng công trình thổ mộc, nhà công tư dinh thự nguy nga.

Chốn châu huyện, bao tầm sưu dịch.

Nơi xóm làng, lặng lẽ cửi canh.

Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa tanh nhơ,

Chặt hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác.

Thần người đều căm giận,

Trời đất chẳng dung tha.

Ta:

Phát tích chốn Lam Sơn,

Nương mình nơi hoang dã.

Ngẫn thế thù há đội trời chung.

Thề nghịch tặc khó cùng tồn tại.

Đau lòng nhức óc đã trãi mười năm,

Nếm mật nằm gai phải đâu một buổi.

Quên ăn vì giận sách lược thao suy xét đã tinh,

Lấy xưa nghiệm nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Chí phục thù đã quyết.

Dẫu thức ngũ không quên.

Vừa khi cờ khởi nghĩa mới dấy lên,

Chính lúc thế giặc đương rất mạnh.

Thế mà:

Nhân tài như lá mùa thu,

Tuấn kiệt tựa sao buổi sớm.

Bôn tẩu trước sau đã ít kẻ đỡ đần,

Vạch mưu dưới trướng lại ít người bàn bạc.

Chỉ vì: Chí muốn cứu dân, những đăm đăm muốn tiến về đông[8]

Nên: cỗ xe đãi hiền, vẫn canh cánh để dành phía tả[9]

Nhưng: Được người đâu dễ, mù mịt xa vời

Mong tự đáy lòng, giáp hơn cứu đuối.

Phần giận quân thù chưa bị diệt.

Phần lo vận nước còn lao đao.

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi huyện quân không một lữ.

Bởi trời muốn thử thách ta, để trao mệnh lớn,

Nên ta càng mài ý chí, quyết vượt gian nguy.

Dựng gậy làm cờ[10], tụ hội bốn phương manh lệ[11]

Hòa rượu mời lính[12], dưới trên một dạ cha con

Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ,

Rốt cuộc: Lấy đại nghĩa thắng hung tàn,

Lấy chí nhân thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật.

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí do đó càng tăng,

Quân thanh từ đây càng dậy.

Bọn Trần Trí, Sơn Thọ, nghe hơi mà mất vía,

Lũ Lý An, Phương Chính, nín thở mong thoát thân.

Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, trôi tanh muôn dặm,

Tốt Động thây phơi đầy nội, để thối ngàn năm.

Tâm phúc giặc, Trần Hiệp đã phải bêu đầu,

Mọt gian giặc, Lý Lượng cũng đành bỏ bỏ mạng.

Vương Thông gỡ rối, đám cháy lại càng bùng,

Mã Anh cứu nguy, lửa thù càng thêm bốc.

Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay,

Ta mưu phạt tâm công[13], không chiến cũng thắng.

Tưởng chúng phải đổi nết thay lòng,

Ngờ đâu cũng làm càn chuốc tội.

Khăng khăng cố chấp, gieo vạ cho bao người.

Thiển cạn tham công, mưu cười khắp thiên hạ.

Thế rồi thằng nhãi ranh [14]Tuyên Đức, hiếu chiến hung hăng

Lại sai lũ hèn nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa chạy.

Tháng 9 năm Đinh Mùi, Liễu Thăng bèn đem quân từ Khâu Ôn tiến sang,

Tháng 10 cùng năm ấy, Mộc Thạnh cũng chia đường từ Vân Nam kéo đến.

Ta trước đã chọn quân chẹn hiểm, bẻ mũi tiên phong,

Rồi sau lại điều binh chặn đường cắt nguồn lương giặc.

Ngày 18 tháng ấy, Liễu Thăng bị quân ta tiến công, rừng Chi Lăng mưu đồ đổ sụp.

Ngày 20, Liễu Thăng bị quân ta đánh bại, núi Mã Yên tử trận phơi thây,

Ngày 25, Bảo Định bá Lương Minh trận hãm phải bỏ mình,

Ngày 28, Thượng thư Lý Khánh kế cùng phải thắt cổ.

Ta thuận đà, đưa dao tung phá,

Giặc bí nước, quay giáo đánh nhau.

Kế đó, lại tăng quân vây bức bốn bên,

Hẹn đến giữa tháng 10 nhất tề diệt giặc.

Kén quân tỳ hổ, chọn tướng vuốt nanh,

Voi uống cạn sông, gươm mài vẹt núi.

Đánh một trận, sạch sanh kình ngạc,

Đánh hai trận tan tác chim muông

Nó như kiến tan đàn dưới bờ đê vỡ.

Ta tựa cơn gió mạnh quét sạch lá khô.

Đô đốc Thôi Tụ lê gối xin đầu hàng,

Thượng thư Hoàng Phúc trói mình đành chịu bắt.

Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,

Xương GIang, Bình Than máu trôi đỏ nước.

Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi,

Ảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ.

Binh Vân Nam bị quân ta chẹn ở Lê Hoa, nơm nớp hoảnh kinh trước đà vỡ mật,

Bọn Mộc Thạnh nghe quan Thăng bại ở Cần Trạm, xéo nhau tháo chạy, chỉ cốt thoát thân!

Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông rền rĩ,

Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đỏ lòm.

Hai cánh viện binh đã gót chẳng kịp quay, thảy đều đại bại,

Mấy thành giặc khôn cũng nối nhau cởi giáp, lũ lượt ra hàng

Tướng giặc bị tù, nó đã vẫy đuôi xin tha mạng sống,

Oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh.

Tham tướng Phưong Chính, nội quan Mã Kỳ, được cấp trước năm trăm chiếc thuyền, đã vượt biển, vẫn hồn bay phách lạc,

Tổng binh Vương Thông, tham chính Mã Anh, lại được cho mấy ngàn cỗ ngựa, về nước rồi, còn tim thót chân run.

Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hòa,

Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu kế cực kỳ sâu xa,

Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy.

Xã tắc do đó vững bền,

Non sông từ đây đổi mới.

Trời đất bĩ rồi lại thái[15]

Nhật nguyệt mờ rồi lại trong.

Để mở nền thái bình muôn thuở,

Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!

Âu cũng nhờ trời đất, tổ tông linh thiên ngầm giúp mới được như vậy.

Ôi!

Một gươm đại định, nên công oanh liệt vô song,

Bốn biển thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn,

Bố cáo gần xa,

Mọi người đều biết. [16]

Tác giả[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Lam Sơn thực lục chép rằng:

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Kết thúc bài cáo, sách có lời chua rằng (Bản Đại cáo này do văn thần Nguyễn Trãi soạn)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội - Hà Nội, 1993
  • Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phân tích bài Bình Ngô Đại Cáo[1]
  2. ^ Lam Sơn thực lục, sách đã dẫn
  3. ^ Chép nguyên văn theo Đại Việt sử ký toàn thư
  4. ^ Do câu "điếu dân phạt tội" ở Kinh Thư, nghĩa là thương xót nhân dân, đánh kẻ có tội.
  5. ^ Lưu cung: vua Nam Hán, sai con là Hoằng Thao đem quân sang xâm lược nước ta, bị Ngô Quyền đánh bại
  6. ^ Triệu Tiết: viên tướng nhà Tống, sang xâm lược nước ta, bị Lý Thường Kiệt, đánh bại.
  7. ^ Nguyên văn: Toa Đô bị bắt ở cửa Hàm Tử. Ô Mã bị giết ở sông Bạch Đằng, chúng tôi sửa một chút cho đúng sự thật lịch sử
  8. ^ Muốn tiến về đông: Nguyên văn là "dục đông", câu trong Hán thư. Khi Lưu Bang bị Hạn Vũ bắt vào Tây Thục, bực dọc nói: "ta cũng muốn tiến về đông, sao chịu ở mãi chốn này". Câu này ý nói nghĩa quân chỉ lăm lăm muốn tiến về Đông Đô (Hà Nội
  9. ^ Sử ký, Tín Lăng Quân truyện: Tín Lăng Quân người nước Nguỵ nhge tiếng Hầu Doanh là một hiền sĩ, đem xe đến đón, mình ngồi phía hữu, để trống chỗ bên tả cho Hầu Doanh. "Để dành phía tả" là có ý khao khát, tôn trọng người hiền.
  10. ^ Nguyên văn: "Yết can vi kỳ", chữ trong Hán thư, ý nói cuộc khởi nghĩa có tính chất quần chúng rộng rãi.
  11. ^ Manh lệ: manh chỉ dân thường, nông dân; lệ là những người bị lệ thuộc, như nô tỳ, Mạnh lệ là những người có thân phận hèn kém trong xã hội cũ.
  12. ^ Nguyên văn: "Đầu lao tướng sĩ". Xưa có viên tướng giỏi, được biếu một bình rượu ngon liền đem rượu đổ xuống dòng sông bảo quân sĩ cùng uống để tỏ lòng đồng cam cộng khổ từ trên xuống dưới.
  13. ^ Mưu phạt tâm công: đánh bằng mưu trí, đánh vào lòng người.
  14. ^ Tuyên Đức: là niên hiệu của vua Tuyên Tông nhà Minh.
  15. ^ Bĩ rồi lại thái: qua thời kỳ gian khổ, đến thời kỳ vui sướng, tươi sáng.
  16. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội - Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 357

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]