Bình Ngô đại cáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bình Ngô Đại Cáo
Trang đầu tiên của bản Bình Ngô đại cáo
Trang đầu tiên của bản Bình Ngô đại cáo
Được viết 1428
Nơi lưu giữ Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
Tác giả Nguyễn Trãi
Mục đích Tuyên bố giành chiến thắng trong cuộc chiến với nhà Minh và khẳng định sự độc lập của Đại Việt

Bình Ngô đại cáo (chữ Hán: 平吳大誥) là bài cáo bằng văn bản do Nguyễn Trãi soạn thảo, viết bằng chữ Hán vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Định Vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc việc giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến với nhà Minh, khẳng định sự độc lập của nước Đại Việt. Đây được coi là bản Tuyên ngôn độc thứ hai của Việt Nam sau bài Nam quốc sơn hà. Bình Ngô đại cáo là tác phẩm văn học với chức năng hành chính quan trọng đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và là tác phẩm có chất lượng văn học tốt đẹp.

Đặt tên tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Hiểu về từ Bình Ngô[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Nguyên Chương, người sáng lập ra nhà Minh là người Hào Châu, xưa thuộc đất Ngô, đó là đất tổ của nhà Minh. Năm 1356, Chu Nguyên Chương xưng Ngô Quốc Công, 8 năm sau ông cải xưng Ngô Vương. Bởi vậy Ngô ở đây vừa là tước hiệu của Chu Nguyên Chương, vừa là nguồn gốc, quê cha đất tổ của Chu Nguyên Chương. Bình Ngô là bình tận gốc gác, giống nòi của giống họ Chu- Thái Tổ nhà Minh.[1]

Hiểu về từ Đại cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách giáo khoa Văn học 10[2]: Bình Ngô đại cáo dịch cho sát nghĩa là:tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô; rồi bổ sung thêm: bài này viết theo thể cáo.

Theo sách giáo khoa Văn học 9[3]:Bình Ngô đại cáo là bài cáo có quy mô lớn, nói việc dẹp yên giặc Ngô.[1]

Theo Nguyễn Đăng Na trong bài viết Bình Ngô đại cáo, một số vấn đề về chữ nghĩa:

  • Hán ngữ đại từ điển giải thích: đại cáo [大誥] là tên một thiên trong sách Thượng Thư. Lời tựa thiên Đại cáo có đoạn: Vũ vương mất, Tam Giám cùng Hoài di làm phản. Chu Công giúp Thành Vương trừ bỏ nhà Ân, viết Đại cáo. Khổng truyện rằng, Trình bày đại đạo [大道]để cáo [誥]với thiên hạ(trần đại đạo dĩ cáo thiên hạ), nên lấy làm tên thiên, sau dùng để phiếm xưng những bài văn có tính chất điển cáo[典誥]. Như vậy, ban đầu, đại cáo [大誥] do hai chữ mang ý nghĩa quan trọng nhất trong mệnh đề trần đại đạo dĩ cáo thiên hạ ghép lại, dùng để gọi tên một thiên trong Kinh Thư, rồi thành từ cố định chỉ loại đặc biệt của thể cáo. Đấy là nghĩa thứ nhất gắn với thời Tây Chu của Trung Hoa cổ đại.

Theo ý này Nguyễn Trãi nhân dịp chiến thắng quân Minh bày tỏ cho thiên hạ thấy cái đại đạo- đạo lý lớn nhất của Việt Nam là đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo. Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài Bình ngô đại cáo; vừa là mục đích mà thiên Đại cáo ở sách Thượng thư hằng dương cao. Khi đi đánh Vũ Canh, Chu Thành Vương truyền Đại cáo, bình xong quân Minh, Lê Thái Tổ cũng tuyên đại cáo, tác giả muốn so sánh Lê Thái Tổ với Chu Thành Vương và muốn bài bình Ngô của thời đại vua Lê Thái Tổ mang ý nghĩa ngang tầm với thiên Đại cáo đánh Vũ Canh thời Tây Chu của Trung hoa cổ đại.

  • Đại cáo còn có nghĩa thứ hai gắn với đương đại thời Minh. Nghĩa này cũng không kém phần quan trọng: Văn kiện pháp luật ban bố năm Hồng Vũ thứ 18 thời Minh gọi là Đại cáo. Hồng Vũ [洪武] là niên hiệu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương [朱元璋] – người khai sáng ra nhà Minh, làm hoàng đế Trung Hoa những năm 13681398.

Nguyễn Trãi muốn thiên hạ thấy rằng, bài cáo là một văn kiện mang tính pháp luật, có ý nghĩa trọng đại, ngang với văn kiện pháp luật mà Minh Thái Tổ ban bố. Văn kiện của Chu Nguyên Chương tượng trưng cho uy quyền và công cụ bảo vệ nhà Minh, ở Việt Nam, Nguyễn Trãi thay lời vua Lê Thái Tổ dùng Đại cáo để tuyên bố bình Ngô thắng lợi và khẳng định sự độc của Đại Việt.[1]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1427, quân khởi nghĩa Lam Sơn đánh tan 2 đạo viện binh của quân Minh do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy. Lê Thái Tổ sai người mang viên tướng bị bắt sống Hoàng Phúc, hai cái hổ phù, hai dấu đài ngân của quan Chinh Lỗ Phó Tướng Quân về thành Đông Quan cho Vương Thông biết. Vương Thông đang cố thủ trong thành Đông Quan biết viện binh đã bị thua, hoảng sợ viết thư xin hòa.

Lê Thái Tổ chấp thuận, sai sứ mang tờ biểu và vật phẩm sang nhà Minh, vua Minh sai quan Lễ Bộ Thị Lang là Lý Kỳ đưa chiếu sang phong cho Trần Cảo làm An Nam Quốc Vương[4], bỏ tòa Bố Chính và triệt quân về Tàu. Tháng chạp năm Đinh Mùi, Vương Thông theo lời ước với Bình Định Vương Lê Lợi, đem bộ binh qua sông Nhị Hà, còn thủy quân theo sau. Vì quân Minh tàn bạo, có người khuyên Lê Lợi đem quân mà giết hết đi, Lê Lợi không chấp thuận, cấp lương thảo và vật dụng cho quân Minh trở về. Năm 1428, Lê Lợi dẹp yên quân Minh, liền sai Nguyễn Trãi thay lời ngài làm tờ bá cáo cho thiên hạ biết.[5]

Tờ cáo là một thông báo có người dân trong nước về việc đánh bại nhà Minh và sự khẳng định sự độc lập của Đại Việt. Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo không chỉ tuyên bố độc lập, mà còn khẳng định sự bình đẳng của Đại Việt với Trung Quốc trong lịch sử từ trước đến nay và thể hiện nhiều ý tưởng về sự công bằng, vai trò của người dân trong lịch sử và cách giành chiến thắng của quân khởi nghĩa Lam Sơn. Ngoài ra, Nguyễn Trãi sử dụng Bình Ngô đại cáo để chứng minh tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và trả lời câu hỏi tại sao quân khởi nghĩa Lam Sơn có thể chiến thắng quân đội nhà Minh đó là chính sách dựa vào nhân dân.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Bài Bình Ngô đại cáo là một thông báo bằng văn bản dưới hình thức văn học của thể văn biền ngẫu, được viết bằng chữ Hán, được dịch sang tiếng Việt bởi một số học giả như Ngô Tất Tố, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim. Kết cầu bài cáo gổm 5 đoạn:

  • Đoạn 1: Từ đầu... đến Chứng cứ rành rành. : Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa và chân lý về chủ quyền độc lập của quốc gia Đại Việt.
  • Đoạn 2: Từ Vừa rồi... đến Trời đất chẳng dung tha. : Tố cáo và kết án tội ác tày trời của giặc Minh.
  • Đoạn 3: Từ Ta đây... đến Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ: Hình ảnh của vị lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn và những khó khăn trong buổi đầu dấy nghiệp.
  • Đoạn 4: Từ Rốt cuộc: Lấy đại nghĩa thắng hung tàn,... đến Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy: Quá trình mười năm kháng chiến và thắng lợi vẻ vang.
  • Đoạn 5: Phẩn còn lại: Khẳng định ý nghĩa to lớn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và lời tuyên bố hoà bình.
Bình Ngô đại cáoBình Ngô đại cáoBình Ngô đại cáoBình Ngô đại cáo
Nguyên văn (Hán văn) "Bình Ngô đại cáo"

Bản dịch của Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi dẹp yên giặc Ngô, vua ban bố Đại cáo khắp thiên hạ. Toàn văn bài Đại cáo như sau:[6]

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu[7] phạt trước lo trừ bạo.

Xét như nước Đại Việt ta,

Thực là một nước văn hiến.

Cõi bờ sông núi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương,

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau.

Song hào kiệt đời nào cũng có.

Cho nên:

Lưu Cung [8] tham công mà đại bại.

Triệu Tiết [9] thích lớn phải tan tành.

Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô,

Sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã[10]

Việc xưa xem xét,

Chứng cứ rành rành.

Vừa rồi:

Vì họ Hồ chính sự phiền hà,

Để đến nổi lòng người oán hận.

Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,

Bọn gian tà lại bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.

Dối trời lừa người, kế quỹ quyệt đủ muôn ngàn khoé.

Gây binh kết oán, tội chồng chất ngót hai mươi năm.

Tan nghĩa nát nhân, trời đất tưởng chừng muốn sập.

Sưu cao thuế nặng, núi chầm hết thảy sạch không.

Kẻ tìm vàng phá núi đãi bùn, lặn lội nơi lam chướng,

Người mò ngọc giòng dây quăng biển, làm mồi lũ giao long.

Nhiễu dân, đặt cạm bẫy hươu đen,

Hại vật, chăng lưới bắt chim trả.

Đến cỏ cây sâu bọ cũng chẳng được trọn đời,

Người goá bụa khốn cùng không một ai yên ổn.

Hút máu mủ sinh dân, quân gian ác miệng răng nhờn béo,

Dựng công trình thổ mộc, nhà công tư dinh thự nguy nga.

Chốn châu huyện, bao tầm sưu dịch.

Nơi xóm làng, lặng lẽ cửi canh.

Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa tanh nhơ,

Chặt hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác.

Thần người đều căm giận,

Trời đất chẳng dung tha.

Ta:

Phát tích chốn Lam Sơn,

Nương mình nơi hoang dã.

Ngẫn thế thù há đội trời chung.

Thề nghịch tặc khó cùng tồn tại.

Đau lòng nhức óc đã trãi mười năm,

Nếm mật nằm gai phải đâu một buổi.

Quên ăn vì giận sách lược thao suy xét đã tinh,

Lấy xưa nghiệm nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Chí phục thù đã quyết.

Dẫu thức ngủ không quên.

Vừa khi cờ khởi nghĩa mới dấy lên,

Chính lúc thế giặc đương rất mạnh.

Thế mà:

Nhân tài như lá mùa thu,

Tuấn kiệt tựa sao buổi sớm.

Bôn tẩu trước sau đã ít kẻ đỡ đần,

Vạch mưu dưới trướng lại ít người bàn bạc.

Chỉ vì: Chí muốn cứu dân, những đăm đăm muốn tiến về đông[11]

Nên: cỗ xe đãi hiền, vẫn canh cánh để dành phía tả[12]

Nhưng: Được người đâu dễ, mù mịt xa vời

Mong tự đáy lòng, giáp hơn cứu đuối.

Phần giận quân thù chưa bị diệt.

Phần lo vận nước còn lao đao.

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi huyện quân không một lữ.

Bởi trời muốn thử thách ta, để trao mệnh lớn,

Nên ta càng mài ý chí, quyết vượt gian nguy.

Dựng gậy làm cờ[13], tụ hội bốn phương manh lệ[14]

Hòa rượu mời lính[15], dưới trên một dạ cha con

Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ,

Rốt cuộc: Lấy đại nghĩa thắng hung tàn,

Lấy chí nhân thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật.

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí do đó càng tăng,

Quân thanh từ đây càng dậy.

Bọn Trần Trí, Sơn Thọ, nghe hơi mà mất vía,

Lũ Lý An, Phương Chính, nín thở mong thoát thân.

Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, trôi tanh muôn dặm,

Tốt Động thây phơi đầy nội, để thối ngàn năm.

Tâm phúc giặc, Trần Hiệp đã phải bêu đầu,

Mọt gian giặc, Lý Lượng cũng đành bỏ bỏ mạng.

Vương Thông gỡ rối, đám cháy lại càng bùng,

Mã Anh cứu nguy, lửa thù càng thêm bốc.

Nó trí cùng lực kiệt, chờ chết bó tay,

Ta mưu phạt tâm công[16], không chiến cũng thắng.

Tưởng chúng phải đổi nết thay lòng,

Ngờ đâu cũng làm càn chuốc tội.

Khăng khăng cố chấp, gieo vạ cho bao người.

Thiển cận tham công, mưu cười khắp thiên hạ.

Thế rồi thằng nhãi ranh [17] Tuyên Đức, hiếu chiến hung hăng

Lại sai lũ hèn nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa chạy.

Tháng 9 năm Đinh Mùi, Liễu Thăng bèn đem quân từ Khâu Ôn tiến sang,

Tháng 10 cùng năm ấy, Mộc Thạnh cũng chia đường từ Vân Nam kéo đến.

Ta trước đã chọn quân chẹn hiểm, bẻ mũi tiên phong,

Rồi sau lại điều binh chặn đường cắt nguồn lương giặc.

Ngày 18 tháng ấy, Liễu Thăng bị quân ta tiến công, rừng Chi Lăng mưu đồ đổ sụp.

Ngày 20, Liễu Thăng bị quân ta đánh bại, núi Mã Yên tử trận phơi thây,

Ngày 25, Bảo Định bá Lương Minh trận hãm phải bỏ mình,

Ngày 28, Thượng thư Lý Khánh kế cùng phải thắt cổ.

Ta thuận đà, đưa dao tung phá,

Giặc bí nước, quay giáo đánh nhau.

Kế đó, lại tăng quân vây bức bốn bên,

Hẹn đến giữa tháng 10 nhất tề diệt giặc.

Kén quân tỳ hổ, chọn tướng vuốt nanh,

Voi uống cạn sông, gươm mài vẹt núi.

Đánh một trận, sạch sanh kình ngạc,

Đánh hai trận tan tác chim muông

Nó như kiến tan đàn dưới bờ đê vỡ.

Ta tựa cơn gió mạnh quét sạch lá khô.

Đô đốc Thôi Tụ lê gối xin đầu hàng,

Thượng thư Hoàng Phúc trói mình đành chịu bắt.

Lạng Giang, Lạng Sơn thây chất đầy đường,

Xương GIang, Bình Than máu trôi đỏ nước.

Ghê gớm thay, sắc phong vân phải đổi,

Ảm đạm thay, ánh nhật nguyệt phải mờ.

Binh Vân Nam bị quân ta chẹn ở Lê Hoa, nơm nớp hoảnh kinh trước đà vỡ mật,

Bọn Mộc Thạnh nghe quan Thăng bại ở Cần Trạm, xéo nhau tháo chạy, chỉ cốt thoát thân!

Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông rền rĩ,

Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đỏ lòm.

Hai cánh viện binh đã gót chẳng kịp quay, thảy đều đại bại,

Mấy thành giặc khôn cũng nối nhau cởi giáp, lũ lượt ra hàng

Tướng giặc bị tù, nó đã vẫy đuôi xin tha mạng sống,

Oai thần không giết, ta cũng thể lòng trời mở đức hiếu sinh.

Tham tướng Phưong Chính, nội quan Mã Kỳ, được cấp trước năm trăm chiếc thuyền, đã vượt biển, vẫn hồn bay phách lạc,

Tổng binh Vương Thông, tham chính Mã Anh, lại được cho mấy ngàn cỗ ngựa, về nước rồi, còn tim thót chân run.

Nó đã tham sống sợ chết, thực bụng cầu hòa,

Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu kế cực kỳ sâu xa,

Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy.

Xã tắc do đó vững bền,

Non sông từ đây đổi mới.

Trời đất bĩ rồi lại thái[18]

Nhật nguyệt mờ rồi lại trong.

Để mở nền thái bình muôn thuở,

Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu!

Âu cũng nhờ trời đất, tổ tông linh thiên ngầm giúp mới được như vậy.

Ôi!

Một gươm đại định, nên công oanh liệt vô song,

Bốn biển thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn,

Bố cáo gần xa,

Mọi người đều biết. [19]

Tác giả[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Lam Sơn thực lục chép rằng:

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Kết thúc bài cáo, sách có lời chua rằng (Bản Đại cáo này do văn thần Nguyễn Trãi soạn)

Theo sách Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận[20], soạn giả Lê Tung [21] khi bình về vua Lê Thái Tổ, Lê Tung viết rằng: Bình Ngô Đại Cáo không câu nào không là lời nhân nghĩa, trung tín; Lam Sơn Thực Lục không chỗ nào không là đạo tu tề trị bình.

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Ngô đại cáo là tác phẩm văn học chức năng hành chính quan trọng không chỉ đối với lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình phát triển văn học sử Việt Nam. Trong tác phẩm này, tác giả đã kết hợp một cách uyển chuyển giữa tính chân xác lịch sử với chất sử thi anh hùng ca qua lối văn biền ngẫu mẫu mực của một ngọn bút tài hoa uyên thâm Hán học. Chính vì thế, Bình Ngô đại cáo đã trở thành tác phẩm cổ điển sớm đi vào sách Giáo khoa từ Phổ thông cơ sở đến Phổ thông trung học và được giảng dạy ở tất cả các trường Cao đẳng, Đại học ngành khoa học xã hội - nhân văn ở Việt Nam.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội - Hà Nội, 1993
  • Lam Sơn thực lục, Nhà xuất bản Tân Việt, 1956
  • Việt Nam sử lược, soạn giả Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản văn học, 2015
  • Bình Ngô đại cáo, một số vấn đề về chữ nghĩa; soạn giả Nguyễn Đăng Na.[22]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỮ NGHĨA, Nguyễn Đăng Na
  2. ^ Văn học 10, sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, tập một, GD, tr. 117
  3. ^ Văn học 9, tập một, tái bản lần thứ 11, GD, 2001, tr. 21
  4. ^ do Vương Thông muốn nhà Minh đỡ mất mặt, liền khuyên Lê Lợi lập con cháu nhà Trần lên làm vua trên danh nghĩa, Lê Lợi lập Trần Cảo, viết thư với danh nghĩa Trần Cảo gửi cho vua Minh
  5. ^ Việt Nam sử lược, soạn giả Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản Văn học, 2015
  6. ^ Chép nguyên văn theo Đại Việt sử ký toàn thư
  7. ^ Do câu "điếu dân phạt tội" ở Kinh Thư, nghĩa là thương xót nhân dân, đánh kẻ có tội.
  8. ^ Lưu cung: vua Nam Hán, sai con là Hoằng Thao đem quân sang xâm lược nước ta, bị Ngô Quyền đánh bại
  9. ^ Triệu Tiết: viên tướng nhà Tống, sang xâm lược nước ta, bị Lý Thường Kiệt, đánh bại.
  10. ^ Nguyên văn: Toa Đô bị bắt ở cửa Hàm Tử. Ô Mã bị giết ở sông Bạch Đằng, chúng tôi sửa một chút cho đúng sự thật lịch sử
  11. ^ Muốn tiến về đông: Nguyên văn là "dục đông", câu trong Hán thư. Khi Lưu Bang bị Hạn Vũ bắt vào Tây Thục, bực dọc nói: "ta cũng muốn tiến về đông, sao chịu ở mãi chốn này". Câu này ý nói nghĩa quân chỉ lăm lăm muốn tiến về Đông Đô (Hà Nội
  12. ^ Sử ký, Tín Lăng Quân truyện: Tín Lăng Quân người nước Nguỵ nhge tiếng Hầu Doanh là một hiền sĩ, đem xe đến đón, mình ngồi phía hữu, để trống chỗ bên tả cho Hầu Doanh. "Để dành phía tả" là có ý khao khát, tôn trọng người hiền.
  13. ^ Nguyên văn: "Yết can vi kỳ", chữ trong Hán thư, ý nói cuộc khởi nghĩa có tính chất quần chúng rộng rãi.
  14. ^ Manh lệ: manh chỉ dân thường, nông dân; lệ là những người bị lệ thuộc, như nô tỳ, Mạnh lệ là những người có thân phận hèn kém trong xã hội cũ.
  15. ^ Nguyên văn: "Đầu lao tướng sĩ". Xưa có viên tướng giỏi, được biếu một bình rượu ngon liền đem rượu đổ xuống dòng sông bảo quân sĩ cùng uống để tỏ lòng đồng cam cộng khổ từ trên xuống dưới.
  16. ^ Mưu phạt tâm công: đánh bằng mưu trí, đánh vào lòng người.
  17. ^ Tuyên Đức: là niên hiệu của vua Tuyên Tông nhà Minh.
  18. ^ Bĩ rồi lại thái: qua thời kỳ gian khổ, đến thời kỳ vui sướng, tươi sáng.
  19. ^ Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội - Hà Nội, 1993, bản điện tử, trang 357
  20. ^ Lê Tung vốn tên là Dương Bang Bản, được ban quốc tính và đổi tên là Tung. Ông đỗ tiến sĩ năm 1484, đời Thánh Tông; giữ chức Thiếu bảo, Lễ bộ thượng thư,tri Kinh diên sự, tước Đôn thư bá, đời vua Lê Tương Dực. Ông có tham gia khởi nghĩa giúp vua Lê Tương Dực, chống vua Uy Mục.
  21. ^ [1] Việt giám thông khảo tổng luận, Lê Tung
  22. ^ Bình Ngô đại cáo, một số vấn đề về chữ nghĩa

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]