Lương Tài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

21°01′04″B 106°12′10″Đ / 21,017855°B 106,202774°Đ / 21.017855; 106.202774

Lương Tài
Địa lý
Huyện lỵ Thị trấn Thứa
Vị trí: Đông Nam Bắc Ninh
Diện tích: 101,2 km²
Số xã, thị trấn: 13 , 1 thị trấn
Dân số
Số dân: 101.500 người (2004)
Mật độ: 1.003 người/km²
Thành phần dân tộc: Chủ yếu là Việt
Hành chính
Chủ tịch Hội đồng nhân dân: Nguyễn Văn Thi[1]
Chủ tịch Ủy ban nhân dân: Đặng Đình Toan[1]
Bí thư Huyện ủy: Nguyễn Văn Thi
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở: (0241) 3867201
Số fax trụ sở: {{{Fax}}}
Website: Trang chủ Huyện Lương Tài

Lương Tài (tên cũ là Lang Tài) là một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh. Huyện lỵ là Thị trấn Thứa.

Địa giới hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Tài có 14 đơn vị hành chính, gồm:

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo tài liệu Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ (大越國總覽圖) [2], thì cái tên Lương Tài (良才) đã có từ trước năm 1424.

Thời kỳ thuộc Minh, vùng này thuộc huyện Thương Tài, thuộc châu Gia Lâm, phủ Bắc Giang. Đến thời Hậu Lê, đổi tên thành Thiện Tài, rồi lại đổi là Lang Tài.

Đời Gia Long, thuộc phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Năm 1822, Minh Mạng đổi trấn Kinh Bắc thành trấn Bắc Ninh, năm 1831 thì đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Lang Tài thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Không rõ vì sao có sự biến âm Lang Tài và Lương Tài. Tài liệu Đại Nam Nhất Thống Chí tập 4, trang 60, vẫn chép là Lang Tài (莨才). Tuy nhiên, đến tháng 8 năm 1950, huyện sáp nhập với huyện Gia Bình thành huyện Gia Lương thuộc tỉnh Hà Bắc.

Từ 9 tháng 8 năm 1999, huyện được tái lập trên cơ sở chia huyện Gia Lương thành huyện Gia Bình và Lương Tài.[3][4]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có địa hình đồng bằng. Sông Thái Bình chảy qua phía đông huyện. Kinh tế huyện thuần nông, chuyên trồng lúa, ngô, cây ăn quả, hoa màu, dâu nuôi tằm, chăn nuôi bò, gia cầm. Nghề thủ công truyền thống là dệt lụa, đúc đồng.

Về giao thông, huyện có đường liên tỉnh chạy qua.

Lương Tài có các trường khá nổi tiếng trong tỉnh như Trường THPT Lương Tài số 1.

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Từ đời Lê về trước có 55 người đỗ đại khoa.

Quê Nguyễn Quốc Đông, Nguyễn Thị Kim, Vũ Miễn, Vũ Miên, Vũ Trinh, Vũ Giới, Hoàng Sĩ Khải, Nguyễn Bạt Tụng.

Địa điểm tham quan du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đình tổ nghề đúc đồng truyền thống Quảng Bố(tên gọi Nôm là Làng Vó), Quảng Phú, Lương Tài, Bắc Ninh thờ ông tổ dậy nghề Nguyễn Công Nghệ, ngày hội làng được tổ chức thường niên vào ngày 23-8 âm lịch
  • Am Trinh Nghĩa: tại thôn Tỳ Điện, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài; thờ Hoàng phi Nguyễn Thị Kim, phi của vua Lê Chiêu Thống, dựng năm 1804, trùng tu lớn năm 1848.[5]
  • Mộ Tiến sĩ Vũ Miễn: tại thôn Ngọc Trì, xã Bình Định, huyện Lương Tài. Tiến sĩ Vũ Miễn, tự Khiêm Trai, sinh năm 1553, đỗ Thủ khoa Tiến sĩ từ Thanh Hóa vào Nam của triều Lê, khoa thi Bính Thìn (1616) khi đã 64 tuổi.[6]
  • Mộ Tiến sĩ Vũ Miên: tại thôn Ngọc Quan, xã Lâm Thao. Tiến sĩ Vũ Miên, tước Liên Khê hầu là học giả ở giữa thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam. Năm 31 tuổi, Vũ Miên đỗ Hội nguyên, thi Đình đứng đầu Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Ông là nhà sử học, Quốc tử giám Tế tửu (Hiệu trưởng trường Quốc học) và là Tể tướng cuối thời Lê-Trịnh.
  • Mộ danh sĩ Vũ Trinh: cháu nội Vũ Miên, đỗ Giải nguyên, được giữ chức Tham tri Chính sự. Tác phẩm nổi bật có: Lan Trì kiến văn lục, Cung oán thi, Sứ Yên thi tập.
  • Khu di tích lịch sử văn hóa cấp nhà nước tại thôn Ngọc Quan, xã Lâm Thao: Đình làng; Văn Chỉ; Nhà thờ họ Vũ ở làng Sen nổi tiếng khoa bảng đất Kinh Bắc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]