Gia Lương (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Gia Lương

Picto infobox map.png
Huyện
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Hồng
TỉnhHà Bắc
Huyện lỵthị trấn Thứa
Trụ sở UBNDĐường Phá Lãng, thị trấn Thứa, Gia Lương, Hà Bắc
Phân chia hành chính1 thị trấn, 26 xã(1998)
Thành lậpTháng 8, 1950 (1950-08)
Giải thể9 tháng 8, 1999; 19 năm trước
Địa lý
Tọa độ: 21°02′32″B 106°08′01″Đ / 21,0422°B 106,1337°Đ / 21.0422; 106.1337 (Trung tâm huyện)Tọa độ: 21°02′32″B 106°08′01″Đ / 21,0422°B 106,1337°Đ / 21.0422; 106.1337
Diện tích208.7 km²
Dân số
Dân tộcKinh
Khác

Gia Lương là một huyện cũ thuộc tỉnh Bắc Ninh, tồn tại giai đoạn 1950-1999.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Theo “Đường thư”, thời thuộc Đường (TK VIII) vùng này thuộc địa phận của ba huyện An Bình, Nam ĐịnhThương Tài.

Năm 1282, nhà Trần tổ chức hội nghị Bình Than ở tổng Vạn Ti nay thuộc xã Cao Đức, vùng đất ngày nay là Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh[1], nhất trí chống quân Nguyên Mông. Trần Quốc Tuấn được phong làm Quốc công tiết chế tổng chỉ huy quân đội.

Đời vua Trần Nhân Tông, Đệ Ngũ Cung phi Đặng Thị Loan từ bỏ hoàng cung trở về giúp quê hương, dạy dân làm ăn, lập chợ (chợ Ngụ ngày nay).[2]

Theo các sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi, "Đại Nam nhất thống chí" của Quốc sử quán triều Nguyễn, "Các tổng trấn xã danh bị lãm", "Địa lý hành chính tỉnh Bắc Ninh" của Nguyễn Văn Huyên, thời nhà Trần (1225 - 1400), sáp nhập hai huyện (An Bình và Nam Định) thành một huyện lấy tên là An Định. Thời thuộc Minh (1414-1427), vùng này thuộc hai huyện An ĐịnhThương Tài, thuộc châu Gia Lâm, phủ Bắc Giang.

Ngày 5 tháng 8 năm 1472, Lê Thái Tông mất tại Lệ Chi Viên (nay thuộc xã Đại Lai), thọ 20 tuổi. Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ bị kết tội giết vua. Ba họ nhà Nguyễn Trãi bị tru di. (Xem Vụ án Lệ Chi Viên).

Đến thời Hậu Lê, đổi tên Thương Tài thành Thiện Tài, rồi lại đổi là Lương Tài (Lang Tài) và trực thuộc phủ Thuận An, Đầu thời Lê Quang Thuận (1460 - 1469) huyện An Định được đổi tên là huyện Gia Định và trực thuộc phủ Thuận An.

Đời Gia Long, vùng thuộc phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Năm 1822, Minh Mạng đổi trấn Kinh Bắc thành trấn Bắc Ninh, năm 1831 thì đổi thành tỉnh Bắc Ninh.

Từ năm 1950 đến năm 1999[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1950, huyện Gia Bình hợp nhất với huyện Lương Tài thành một huyện, lấy tên là huyện Gia Lương. Lúc này huyện Gia Lương có 28 xã. Huyện lỵ khi đó vẫn đóng tại xã Phá Lãng.

Khi mới hợp nhất, huyện Gia Lương có 28 xã: An Bình, An Thịnh, Bình Định, Bình Dương, Cao Đức, Đại Bái, Đại Lai, Đông Cứu, Giang Sơn, Lai Hạ, Lâm Thao, Lãng Ngâm, Minh Tân, Mỹ Hương, Nhân Thắng, Phá Lãng, Phú Hòa, Phú Lương, Quảng Phú, Quỳnh Phú, Song Giang, Tân Lãng, Thái Bảo, Trung Chính, Trung Kênh, Trừng Xá, Vạn Ninh, Xuân Lai.

Ngày 10 tháng 6 năm 1967, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 398-NQ/TVQH về việc sáp nhập xóm Bình Giang thuộc xã Minh Tân huyện Gia Lương tỉnh Hà Bắc vào xã Thái Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương.

Ngày 4 tháng 6 năm 1969, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 84-CP hợp nhất huyện Gia Lương và huyện Thuận Thành thành một huyện lấy tên là huyện Gia Thuận. Nhưng đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 17-CP phê chuẩn đề nghị của UBND tỉnh Hà Bắc thôi không hợp nhất huyện Gia Lương với huyện Thuận Thành.

Ngày 01 tháng 8 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 237-CP Về việc sáp nhập xã An Bình thuộc Gia Lương vào huyện Thuận Thành.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, huyện Gia Lương thuộc tỉnh Bắc Ninh vừa được tái lập.

Ngày 19 tháng 6 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 42/1998/NĐ-CP về việc thành lập thị trấn Thứa, thị trấn huyện lỵ huyện Gia Lương. Thị trấn Thứa được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Phá Lãng, có diện tích đất tự nhiên là 691 ha và 9.176 nhân khẩu. Địa giới thị trấn Thứa: Đông giáp xã Phú Hoà và xã Trừng Xá, Tây giáp xã Bình Định, Nam giáp xã Trung Chính và xã Phú Lương, Bắc giáp xã Quỳnh Phú và xã Tân Lãng.

Đến đầu năm 1999, đơn vị hành chính của huyện Gia Lương gồm thị trấn Thứa và 26 xã: An Thịnh, Bình Định, Bình Dương, Cao Đức, Đại Bái, Đại Lai, Đông Cứu, Giang Sơn, Lai Hạ, Lâm Thao, Lãng Ngâm, Minh Tân, Mỹ Hương, Nhân Thắng, Phú Hòa, Phú Lương, Quảng Phú, Quỳnh Phú, Song Giang, Tân Lãng, Thái Bảo, Trung Chính, Trung Kênh, Trừng Xá, Vạn Ninh, Xuân Lai.

Ngày 09 tháng 8 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/1999/NĐ-CP. Theo đó, huyện Gia Lương được chia làm 2 huyện Gia Bình và Lương Tài. Tại thời điểm đó:

  • Huyện Gia Bình có 13 xã: Bình Dương, Đại Bái, Đại Lai, Cao Đức, Đông Cứu, Giang Sơn, Lãng Ngâm, Nhân Thắng, Quỳnh Phú, Song Giang, Thái Bảo, Vạn Ninh, Xuân Lai.
  • Huyện Lương Tài có 10.116, 15 ha diện tích đất tự nhiên và 101.540 nhân khẩu, gồm 14 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị trấn Thứa và 13 xã: An Thịnh, Bình Định, Lai Hạ, Lâm Thao, Minh Tân, Mỹ Hương, Phú Hòa, Phú Lương, Quảng Phú, Tân Lãng, Trung Chính, Trung Kênh, Trừng Xá; với 102 thôn, làng, khu phố.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi thì đầu thế kỷ XV, có 160 xã và 1 sở (Gia Bình đầu thời Lê có 86 xã và 1 sở;Lương Tài có 74 xã). Theo sách “Các tổng trấn xã danh bị lãm” soạn vào đầu thời Gia Long (thế kỷ XIX), có 17 tổng:

1. Tổng Tam Á có 6 xã: Tam Á, Bảo Khám, Phú Ninh, Trạm Lộ, Dư Xá, Yên Định.

2. Tổng Bình Ngô có 9 xã: Bình Ngô, Đông Côi, Nghi Khúc, Yên Ngô, Thường Vũ, Đoan Bái, Trương Xá, Đại Bái, Ngọc Xuyên.

3. Tổng Đông Cứu có 6 xã: Đông Cứu, Cứu Sơn, Lãng Ngâm, Ngâm Điền, Quảng Ái, thôn Nội Phú thuộc xã Đông Cứu.

4. Tổng Tiêu Xá có 7 xã, phường: Tiêu Xá, Dù Chàng, Cổ Thiết, Hữu Ái, Từ Ái, Lập Ái, phường Thủy Cơ sông Thiên Đức.

5. Tổng Xuân Lai có 8 xã, phường: Xuân Lai, Yên Thành, An Khoái, An Mỗ, Phúc Lai, thôn Đông Cao thuộc xã Phúc Lai, Định Lăng.

6. Tổng Quỳnh Bội có 7 xã: Quỳnh Bội, Phú Từ, Đổng Lâm, Đỗ Xá, Lương Pháp, Thủ Pháp (năm 1807 phiêu tán, năm 1808 phục hồi).

7. Tổng Đại Lai có 13 xã, phường: Đại Lai, Nhân Hữu, Ngô Cương, Hương Triện, Địch Trung, Cẩm Xá, Ngọc Triện, phường Bái Giang xã Gia Phú, Bồng Trì, Phương Độ, Phùng Xá, Huề Đông, Bảo Triện.

8. Tổng Vạn Tư có 11 xã, sở: Vạn Tư, Vạn Tải, Phồn Dương, Tiểu Than, Đại Than, Văn Than, Kinh Bồ, Phù Than, Cao Trụ Vạn Thọ, sở Phồn Dương.

9. Tổng Lương Tài có 9 xã, thôn: Lương Tài, Mậu Lương, Tuấn Lương, thôn Nhuận Trạch thuộc xã Đông Trạch, thôn Khuyến Thiện thuộc xã Đông Trạch (thôn này phiêu tán năm 1807, năm 1808 phục hồi), Xuân Đào, Đồng Xuyên, Mậu Duyệt, Cận Duyệt (xã Mậu Duyệt và xã Cận Duyệt phiêu tán năm 1807, năm 1808 phục hồi).

10. Tổng Ngọc Trì có 5 xã: Ngọc Trì, Quảng Cầu, Ngô Phần, Tỉnh Ngô, Cổ Lãm.

11. Tổng Quảng Bố có 6 xã:, Quảng Bố, Quảng Nạp, Hạo Bá, Thanh Da, Bình Mai, Phú Thọ.

12. Tổng Lâm Thao có 5 xã: Lâm Thao, Thái Trì, Bảo Khám, Bảo Thao, Xuân Quan (năm 1807 phiêu tán, năm 1808 phục hồi).

13. Tổng Lương Xá có 8 xã: Lương Xá, Ông Lâu, Lãng Dương, Bích Khê, Thọ Ninh, Lai Xá Tê, Lai Xá Đông, Tuần La.

14. Tổng An Tráng có 7 xã: An Tráng (năm 1807 phiêu tán, năm 1808 phục hồi), Uyên Lãng, Đức Trai, Hoa Cầu, Phú Tráng, Kham Du, Xuân Áng.

15. Tổng Tỳ Bà có 9 xã: Tỳ Bà, Hương Chi, Cứu Dương, An Xá, Phú Văn, Nội Duệ, Phồn Khê, Văn Xá, Phương Xá, Mạc Xuyên (xã Mạc Xuyên năm 1807 phiêu tán, năm 1808 phục hồi).

16. Tổng Đặng Xá có 11 xã thôn: Đặng Xá, thôn Ngô An Cường thuộc xã Đương Triều, thôn Ngọc Thượng thuộc xã Nhị Trai, thôn Cự thuộc xã Nhị Trai, Thận Trai, Nhất Trai, Vĩnh Trai, Hương Trai, Đỉnh Dương (thôn Cự và các xã: Thận Trai, Nhất Trai, Vĩnh Trai, Hương Trai, Đỉnh Dương, Trình Phú năm 1807 phiêu tán, năm 1808 phục hồi).

17. Tổng Phá Lãng có 12 xã thôn: Phá Lãng, Trung Trinh, Đào Xá, Đào Xuyên, Lãng Khê, Trình Khê, Khải Mông, Đạo Sử, thôn Phượng Trì thuộc xã Dị Sử, thôn Tam Sơn thuộc xã Dị Sử, Kim Đào, Nhuế Đông, thôn Đông Hoa thuộc xã Dị Sử (năm 1807 các xã Nhuế Đông, Kim Đào và thôn Đông Hoa thuộc xã Dị Sử phiêu tán, năm 1808 phục hồi).

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng bị bãi bỏ, đơn vị xã cũ được giữ nguyên.

Năm 1948, một số xã nhỏ (tương đương với đơn vị làng) được sáp nhập lại thành xã lớn và lấy tên mới: Vạn Ty hợp nhất với Vạn Tải lấy tên là xã Vạn Liên, Bảo Triện hợp nhất với Phương Triện lấy tên là xã Thái Lai. Một số xã lấy tên tổng cũ đặt tên cho xã, một số đặt tên mới: xã Xuân Hiệp, Thịnh Đức, Hương Khê, Phú Lâm, Quỳnh Lâm, An Bình, Bình Dương, Cao Đức, Đại Thành, Đông Cứu, Lãng Ngâm, Vạn Ninh, Lâm Thao, Phá Lãng (gồm 4 làng của tổng Phá Lãng); những xã đặt tên mới là: Bình Định (gồm các làng của tổng Ngọc Trì cũ), Quảng Phú (các làng của tổng Quảng Bố), Phú Lương (gồm các làng của tổng Lương Xá), Trung Kênh (gồm các làng của tổng Hoàng Kênh), An Thịnh (các làng thuộc tổng An Trụ), Phú Hòa (gồm các làng thuộc tổng Tỳ Bà), Mỹ Hương (gồm 3 làng của tổng Lại Thượng), Tân Lãng (gồm 4 làng của tổng Phá Lãng), Trừng Xá, Lai Hạ (gồm một số làng của tổng Lại Thượng), Trung Chính (gồm 3 làng của tổng Phá Lãng), Minh Tân (gồm 6 làng của tổng Đặng Xá),...

Theo Quyết định số 422 pc/2 ngày 9 tháng 7 năm 1949 của Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Liên khu I, một số xã được hợp nhất lại và lấy tên mới:

- Xã Xuân Hiệp hợp nhất với xã Thịnh Đức lấy tên là xã Thịnh Đức,

- Xã Nhân Hữu hợp nhất với xã Hương Khê lấy tên là xã Nhân Thắng,

- Xã Phú Lâm hợp nhất với xã Quỳnh Lâm lấy tên là xã Quỳnh Phú,

- Xã Tiêu Xá đổi tên là xã Hiệp Xá,

- Xã Vạn Liên hợp nhất với xã Thái Lai gọi là xã Thái Bảo.

- Xã Trừng Xá đổi tên là Thắng Lợi.

Từ năm 1950 đến năm 1999[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1950, huyện Lương Tài hợp nhất với huyện Gia Bình thành một huyện, lấy tên là huyện Gia Lương. Lúc này huyện Gia Lương có 28 xã. Huyện lỵ khi đó vẫn đóng tại xã Phá Lãng.

Một thời gian sau, xã Tiêu Xá được chia thành hai xã là xã Giang Sơn và xã Song Giang, xã Nhân Hữu được đổi thành xã Bình Dương, xã Thịnh Đức đổi thành xã Xuân Lai.

Giữa năm 1955, sau khi thực hiện chính sách giảm tô và cải cách ruộng đất, các làng của xã Thái Lai cũ được tách ra khỏi xã Thái Bảo để thành lập xã mới, lấy tên là xã Tân Lập.

Ngày 27 tháng 2 năm 1961, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 30-CP chuyển ấp Hôm thuộc xã Đức Thành huyện Quế Dương về xã Tân Lập huyện Gia Lương; chuyển ấp Găng thuộc xã Đức Thành huyện Quế Dương về xã Thái Bảo huyện Gia Lương.

Năm 1967, xã Tân Lập được đổi tên là xã Đại Lai.

Ngày 10 tháng 6 năm 1967, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 398-NQ/TVQH về việc sáp nhập xóm Bình Giang thuộc xã Minh Tân huyện Gia Lương tỉnh Hà Bắc vào xã Thái Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương.

Đến năm 1972, những xã được đổi tên từ năm 1949, lấy lại tên cũ: xã Đại Thành đổi lại là xã Đại Bái, …

Ngày 01 tháng 8 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 237-CP Về việc sáp nhập xã An Bình thuộc Gia Lương vào huyện Thuận Thành.

Ngày 19 tháng 6 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 42/1998/NĐ-CP về việc thành lập thị trấn Thứa, thị trấn huyện lỵ huyện Gia Lương. Thị trấn Thứa được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Phá Lãng, có diện tích đất tự nhiên là 691 ha và 9.176 nhân khẩu. Địa giới thị trấn Thứa: Đông giáp xã Phú Hoà và xã Trừng Xá, Tây giáp xã Bình Định, Nam giáp xã Trung Chính và xã Phú Lương, Bắc giáp xã Quỳnh Phú và xã Tân Lãng.

Địa Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Gia Lương1998[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ gió Huyện Quế Võ
sông Đuống
Huyện Chí Linh, Hải Hưng Biểu đồ gió
Huyện Thuận Thành B Huyện Nam Thanh, Hải Hưng
T    Huyện Gia Lương    Đ
N
Huyện Cẩm Bình, Hải Hưng
Enclave: {{{enclave}}}

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc lộ(3)[sửa | sửa mã nguồn]

QL.17: Đại Bái - Gia Bình - Xuân Lai - Sông Ngụ - Nhân Thắng - Bình Dương - Vạn Ninh

QL.18 (AH13): Giáp tại cầu Bình Than (Vạn Ninh)

QL.38: Giáp tại cầu Sen (Lâm Thao)

Tỉnh lộ(7)[sửa | sửa mã nguồn]

TL.279: Nam Đuống - Đông Cứu - Gia Bình

TL.280: Lãng Ngâm - Đông Cứu - Gia Bình - Tân Lãng - Phá Lãng - Bình Định - Lâm Thao

TL.281: Quảng Phú - Phá Lãng - Phú Hòa - An Thịnh - Kênh Vàng

TL.282: Lãng Ngâm - Đông Cứu - Gia Bình - Đông Cứu - Xuân Lai - Đại Lai - Thái Bảo - Vạn Ninh (- Cao Đức - An Thịnh - Kênh Vàng)

TL.284: Lãng Ngâm - Đại Bái - Tân Lãng - Phá Lãng - Trung Chính - Lai Hạ

TL.285: Đại Lai - Nhân Thắng - Sông Ngụ - Phú Hòa - Mỹ Xá - Lai Hạ

TL.285B: Vạn Ninh - Bình Dương - An Thịnh - Kênh Vàng - Mỹ Xá - Lai Hạ - Trung Chính - Phú Lương - Bình Định

Sông ngòi - Cầu[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Đuống

Sông Thái Bình

Sông Ngụ

Cầu Ngụ

Cầu Móng

Cầu Bình Than

Cầu Lệ Chi: kéo dài TL285 sang Quế Võ

Cầu Kênh Vàng: kéo dài TL281 sang Nam Sách

Cầu Thái Bình: kéo dài TL284 sang Nam Sách

Cầu Nam Đuống: Nối từ Phố Mới sang Gia Bình

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Đường sắt Hà Nội - Hải Phòng

Đường sắt Yên Viên - Cái Lân

Đề án thành lập thị xã[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mục đích:
    • Phù hợp với sự phát triển kinh tế của khu vực
    • Phù hợp với quy hoạch chung giai đoạn 2 của thành phố Bắc Ninh
    • Phù hợp với việc tinh giản hành chính
  • Cơ sở:
    • Toàn bộ diện tích 2 huyện Gia Bình, Lương Tài
    • 29 đơn vị hành chính cấp xã trong đó có 3 thị trấn (Thứa, Gia Bình, Ngụ) và 2 thị trấn đề xuất (Kênh Vàng, Cao Đức)

Đề án thị xã[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quy mô: 208.7 km² diện tích tự nhiên và 29 đơn vị hành chính
  • Trụ sở làm việc đặt mới tại Đô thị Ngụ
  • Là Thị xã thứ 2 thuộc Thành phố Bắc Ninh mới (Thị xã Thuận Thành trước đó)

Đề án các phường[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phường Phá Lãng: thị trấn Thứa mở rộng; trụ sở là trụ sở Thị trấn Thứa cũ tại đường Hàn Thuyên.
  • Phường Đông Bình: thị trấn Gia Bình mở rộng phía đông và nam; trụ sở là trụ sở Thị trấn Gia Bình cũ tại đường Nguyễn Văn Cừ.
  • Phường Sông Ngụ: thị trấn Ngụ mở rộng phía tây và nam; trụ sở là trụ sở Thị trấn Ngụ cũ tại đường Bình Than.
  • Phường Tân Lãng: xã Tân Lãng mở rộng phía tây; trụ sở là trụ sở xã Tân Lãng cũ tại đường Phá Lãng.
  • Phường Đại Bái: xã Đại Bái mở rộng; trụ sở là trụ sở xã Đại Bái cũ tại đường.
  • Phường Đông Cứu: xã Đông Cứu mở rộng phía đông; trụ sở là trụ sở xã Đông Cứu cũ tại đường Lê Văn Thịnh.

Đề án các xã[sửa | sửa mã nguồn]

  • Xã Lãng Ngâm
  • Xã Nam Đuống (hợp 2 xã Song Giang và Giang Sơn)
  • Xã Đại Lai
  • Xã Vạn Bảo (hợp 2 xã Thái Bảo và Vạn Ninh)
  • Xã Bình Than (hợp 2 xã Nhân Thắng và Bình Dương) (đô thị loại V ~ Định hướng lập phường)
  • Xã Cao Đức (đô thị loại V ~ Định hướng lập phường)
  • Xã An Thịnh
  • Xã Trung Kênh (đô thị loại V ~ Định hướng lập phường)
  • Xã Phú Hòa
  • Xã Lai Hạ mới (hợp 2 xã Lai Hạ và Mỹ Hương)
  • Xã Minh Tân mới (hợp 2 xã Minh Tân và Trừng Xá)
  • Xã Trung Chính
  • Xã Phú Lương
  • Xã Lâm Thao
  • Xã Bình Định

Sau khi thành lập, thị xã có 21 đơn vị hành chính trong đó có 6 phường:

Các đơn vị hành chính thị xã Gia Lương khi thành lập
Tên Dân số (người) Diện tích
Phường (06)
Đông Bình 383.261 11,37 km²
Đại Bái 174.154 6,27 km²
Đông Cứu 253.474 6,66 km²
Phá Lãng 474.828
Sông Ngụ 418.961 8,3 km²
Tân Lãng 263.486
Tên Dân số (người) Diện tích
(15)
An Thịnh
Bình Định
Bình Than
Cao Đức
Đại Lai
Lai Hạ
Lâm Thao
Lãng Ngâm
Nam Đuống
Minh Tân
Phú Hòa
Phú Lương
Trung Chính
Trung Kênh
Vạn Bảo

Giai đoạn tiếp theo chuyển một số xã lên phường (Bình Than, Cao Đức, Lâm Thao, Phú Lương, Trung Kênh)~Thị xã có 11 phường và 10 xã và nâng cấp thị xã lên đô thị loại III

Giai đoạn 2018-2022:

  • Chỉnh trang và nâng cấp hạ tầng các đô thị hiện hữu: Thứa, Gia Bình, Ngụ

Giai đoạn 2022-2030:

  • Kiến tạo những tiền đề cho việc thành lập Thị xã
  • Xây dựng khu đô thị hạt nhân (nội thị) bằng việc kết nối 3 đô thị hiện hữu và các xã phụ cận, nâng cấp đô thị khu hạt nhân lên Đô thị loại IV
  • Phát triển chung toàn bộ khu vực 26 xã đặc biệt trong dịch vụ và công nghiệp: các khu du lịch, đô thị sinh thái, KCN Gia Bình, KCN Bình Than, KCN Lương Tài và các cum công nghiệp tiểu thủ công nghiệp

Giai đoạn 2030-2035:

  • Trình phê duyệt đồ án thị xã
  • Phát triển chung đồng bộ đặc biệt là phân khu chức năng: Khu đô thị trung tâm, Khu đô thị hành chính (nằm trong đô thị Ngụ), 3 khu công nghiệp trọng tâm, Khu vực vành đai sinh Nam Đuống - Thái Bình

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]