Tô Hiến Thành

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tô Hiến Thành
Chức vụ
Thái phó Nhà Lý
Nhiệm kỳ 1175 – 1179
Tiền nhiệm Đỗ Anh Vũ
Kế nhiệm Đỗ An Di
Thông tin chung
Sinh 1102
Mất 1179
Thăng Long
Dân tộc Kinh
Tôn giáo Phật giáo

Tô Hiến Thành (蘇憲誠, 1102-1179), quê làng Hạ Mỗ nay là xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội, là quan đại thần phụ chính nhà Lý, phụng sự hai triều vua: Lý Anh TôngLý Cao Tông. Ông là viên quan văn võ song toàn, nổi tiếng là công minh chính trực, được vua phong tước vương mặc dù không phải tôn thất nhà Lý.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, Tô Hiến Thành sinh ngày 22 tháng 1 năm Nhâm Ngọ (1102) - mất ngày 12 tháng 6 năm Kỷ Hợi (1179), ông sinh ra ở Xóm Lẻ thuộc làng Hạ Mỗ - Xã Hạ Mỗ - huyện Đan Phượng, Tp.Hà Nội).[1] Do họ của ông là Tô, có giả thuyết cho rằng ông có thể có quan hệ họ hàng với Tô thị, vợ của Đỗ Anh Vũ[2] là nhân vật có quyền lực nhất trong triều đình đầu thời trị vì của vua Lý Anh Tông.[3]

Tô Hiến Thành được đề cập lần đầu trong sử sách do vai trò của ông trong việc bình định nổi loạn Thân Lợi.[4] Năm 1140, Thân Lợi tự xưng là con trai Lý Nhân Tông và nổi loạn chống vua Lý Anh Tông ở khu vực phía bắc (nay là Thái Nguyên).[5] Quân của Thân Lợi cuối cùng đã bị quân nhà Lý do Đỗ Anh Vũ chỉ huy đánh tan, Thân Lợi bị Tô Hiến Thành bắt và bị chém đầu theo lệnh của Lý Anh Tông tháng 10 năm 1141.[6] Chính Tô Hiến Thành đã khuyên nhà vua tha cho các thành viên tham gia nổi loạn để tỏ lòng nhân ái đối với dân chúng.[7] Sự nghiệp làm tướng võ của Tô Hiến Thành chủ yếu là dưới thời trị vì của vua Lý Anh Tông. Tiếp nối gương của Thái úy Lý Thường Kiệt, Thái úy Tô Hiến Thành đã cùng vua Lý Anh Tông đi dẹp loạn các nơi, mở mang bờ cõi thêm về phía Tây bắc. Chống Chân Lạp xâm lược, chinh phạt Chiêm Thành. Làm cho vị thế của quốc gia Đại Việt dưới thời Lý Anh Tông trở nên lớn mạnh với các nước lân bang và với nhà Tống. Buộc nhà Tống phải công nhận Đại Việt vào năm 1164.

Đền thờ Tô Hiến Thành tại nơi đã ghi trên.

Sự nghiệp làm quan văn của ông cũng hiển hách không kém, nhưng phần lớn công lao lại tập trung ở giai đoạn cuối đời, khi ông trở thành đại thần phụ chính tài năng và đức độ cuối cùng của nhà Lý. Ở giai đoạn trước đó, công lao lớn nhất của ông là việc ông tổ chức khai hoang lấn biển các vùng ven biển thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa và Hà Tĩnh ngày nay. Cuối đời ông làm đến chức Nhập nội kiểm hiệu Thái phó bình chương quân quốc trọng sự (tể tướng). Khi vua Lý Anh Tông băng hà năm 1175, hoàng tử trưởng là Lý Long Xưởng hư hỏng, vua có di chiếu lập hoàng tử Lý Long Trát mới có 1 tuổi lên ngôi (tức vua Lý Cao Tông), đã giao cho ông phụ chính.

Hoàng hậu - mẹ Long Xưởng - đem mâm vàng đến hối lộ ông, mong ông đổi di chiếu đưa Long Xưởng lên ngôi, nhưng ông kiên quyết từ chối và làm theo sự ủy thác của Tiên đế. Nhưng do tuổi già sức yếu mà thời gian phò trợ ấu chúa của ông không được là bao. Năm 1179 khi vua mới 6 tuổi, thì ông ốm nặng và mất. Trước khi mất ông tiến cử Trần Trung Tá, người có thực tài, thay mình phụ chính nhà vua, mà nhất quyết không tiến cử Vũ Tán Đường người hầu cận bên mình. Mặc dù người đương thời ví Tô Hiến Thành như Gia Cát Lượng thời Tam Quốc bên Trung Quốc[8], triều đình sau đó đã không nghe theo lời ông cho Trần Trung Tá làm Thái phó phụ chính cho vua, dẫn đến sau này vua Cao Tông không được dạy bảo điều hành chính sự mà chỉ lo ăn chơi, nhà Lý đi vào suy vong.

Thờ phụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tô Hiến Thành được thờ ở rất nhiều nơi tại miền Bắc. Như tại các di tích đền Thánh Tô, đình Trùng Hạ, đình Vân Thị, đình Trùng Thượng thuộc huyện Gia Viễn, Ninh Bình; đền Đông thuộc xã Thạch Đồng, Thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Riêng ở Thanh Hóa, trước đây có 72 đền thờ Tô Hiến Thành, trong số đó đền thờ tại làng Cẩm Đới (thuộc tổng Trung Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, còn hiện nay thuộc làng Chánh Lộc, xã Hà Giang, huyện Hà Trung) được xem là nơi chính với tên gọi “Đền chính từ Cẩm Đới”.[9]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Tô Hiến Thành”. Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam. 
  2. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 140
  3. ^ Keith Weller Taylor, John K. Whitmore (1995). Essays into Vietnamese pasts, Volume 19. SEAP Publications. tr. 70. ISBN 0877277184. 
  4. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 136
  5. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 45–46
  6. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 135–137
  7. ^ National Bureau for Historical Record 1998, tr. 165
  8. ^ Các triều đại Việt Nam, Quỳnh Cư-Đỗ Đức Hùng, Nhà xuất bản Thanh niên 2005
  9. ^ Đệ Nhất Chính Cẩm Đới

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]