Đỗ Kính Tu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Đỗ Kính Tu (chữ Hán: 杜敬脩, ?-?) hay Lý Kính Tu (李敬脩) là một đại thần nhà Lý trong lịch sử Việt Nam.

Quê quán[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Kính Tu quê ở làng Hậu Ái.[1] Hậu Ái sau là một thôn thuộc tổng Phương Canh, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông. Nay là xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Kính Tu sinh năm 1152 (Nhâm Thân) hoặc Mậu Thìn (1148) trong một gia đình nho học tại Nhân Lý, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây (nay là làng Hậu Ái). Ông thông minh từ bé, năm 13 tuổi đã đỗ Tú tài kỳ thi Hương. Đến năm 18 tuổi, khi triều đình mở khoa thi võ, ông đỗ Phong Võ Chức và được vua cử đi dẹp giặc. Năm 23 tuổi, ông đỗ Thái học sinh và được vua phong chức Hàn Lâm Viện Đại Học Sĩ kiêm Võ sư. Ông được phong làm Nhập nội kiêm hiệu Thái úy đời Anh Tông, được vua ban cho họ Lý. Khi vua Anh Tông mất, Cao Tông mới 3 tuổi, Kính Tu cùng Tô Hiến Thành phụ chính, vỗ về dân xa, dẹp yên loạn bên trong và giặc ngoài. Sau đó, ông được phong nhiều chức như: Đế Sư, Thái Bảo Thái Phó, Thái Úy (Tể tướng).

Năm 1182, sau khi Thái úy Tô Hiến Thành mất, Đỗ Kính Tu được giữ chức Đế sư (thầy dạy học cho vua nhỏ Lý Cao Tông), từ đó chấm dứt hoàn toàn âm mưu phế lập của Chiêu Linh thái hậu,[2] sau giữ chức Quốc sư phụ chính thời Lý Cao Tông. Nếu Tô Hiến Thành nhận di chiếu Lý Anh Tông lập Lý Long Trát làm vua, tức Cao Tông thì Đỗ Kính Tu nhận di chiếu của Vua Cao Tông lập Lý Hạo Sảm làm vua, tức Lý Huệ Tông. Theo nhà bác học Phan Huy Chú, thời Lý chỉ có bốn người được xếp vào hàng “những người phò tá có công lao tài đức”, trong đó có Đỗ Kính Tu. Sử chép: “Năm Nhâm Dần, lấy Kính Tu làm đế sư, trong thì hầu giảng sách, ngoài thì chăm việc dân, từ đó thái hậu Chiêu Linh không dám manh tâm mưu khác”. Năm 1175, bà Chiêu Linh từng muốn bỏ Lý Long Trát mà lập Long Xưởng (con trai bà) làm vua nhưng Tô Hiến Thành không nghe. Bốn năm sau, Tô Hiến Thành qua đời, bà lại muốn thay đổi vua nhưng Đỗ Kính Tu phản đối, bà cũng đành chịu.

Mùa xuân năm 1204, Đỗ Kính Tu cầm quân ra trận đi đánh bọn nổi loạn ở Đại Hoàng (nay thuộc thành phố Nam Định) nhưng không được.[2] Cầm đầu cuộc nổi loạn là Phi Long vốn là một quan chức cùa triều đình, từng vạch tội thái úy Đàm Dĩ Mông đục khoét nhân dân nên bị viên quan này âm mưu sát hại. Phi Long trốn về quê ở vùng Đại Hoàng rồi cùng nhân dân khởi nghĩa. Khi Đỗ Kính Tu đem quân tới, Phi Long ra trước ngựa phân trần. Cảm thông với hoàn cảnh của Phi Long, Kính Tu giao chiến chiếu lệ rồi thu quân.[1] Việc này đã mang lại hậu họa cho ông.

Năm 1210, trước khi mất, Lý Cao Tông cho gọi Đỗ Kính Tu để ký thác.[2] Lý Cao Tông mất, Đỗ Kính Tu phò Thái tử Sảm lên ngôi, tức vua Lý Huệ Tông, vì vậy được ban quốc tính, nên còn gọi là Lý Kính Tu.

Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]

Ở làng Hậu Ái, người dân còn nhớ mãi công lao của ông đã cứu làng khỏi nạn úng ngập. Làng này nằm trong vùng đất trũng, đến mùa mưa cả làng chìm trong nước. Ai cũng muốn có con mương tiêu nước từ Di Trạch qua Hậu Ái, Hòe Thị, Thị Cấm rồi đổ vào sông Nhuệ, nhưng không làm được vì phải đi qua nhiều làng. Đỗ Kính Tu đã đứng ra thương lượng với các địa phương, lấy hơn chục mẫu ruộng do vua ban để đền bù cho các chủ đất. Nhờ đó con mương ra đời, Hậu Ái không còn bị khổ vì nạn úng ngập nữa. Nhưng bọn quan ghen ghét đã vu cáo ông cho đào mương để tiện hành quân đánh úp kinh thành. Uất ức quá, Đỗ Kính Tu cưỡi ngựa ra sông Hồng tự vẫn. Còn lưu truyền huyền thoại, trước lúc ông lên ngựa để phi ra sông Hồng (quãng Thượng Cát bây giờ) ông đã gọi đủ bảy người gồm vợ và thê thiếp, khuyên họ khi ông chết nên tái giá vì họ còn trẻ, nhưng cả bảy người không nghe và họ đã tuẫn tiết trước ngựa của ông, ở thôn Hậu ái bây giờ còn miếu thờ bảy bà nàng, không xa mộ của ông là mấy (đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử). Hôm đó là ngày 21 tháng 5 âm lịch năm 1216 (Bính Tý). Cũng là sự lưu truyền, trước lúc nhay xuống sông Hồng , Ông đã có lời khấn, nếu ông đúng tội, cả người và ngựa sẽ rời nhau và bị nước cuốn trôi mất, còn nếu như ông vô tội thì cả người và ngựa sẽ không rời nhau và nổi lên. Quả nhiên , chỉ sau ba ngày cả người và ngựa nổi lên và vẫn dính chặt vào nhau. Nỗi oan của ông sau này được giải tỏ, triều đình phong ông làm Phúc thần đựợc thờ làm thành hoàng ở thôn Hậu Ái.

Về bi kịch này, Phan Huy Chú đã viết: “Vỗ về dân xã, dẹp yên giặc giã, dự hàng công lớn mà bỏ mình vì bọn quyền thần tàn bạo”.

Khi ông mất, vua chợt tỉnh ngộ, liền cho rước ông về quê để mai táng, và lấy ngày 21 tháng 5 âm lịch hàng năm là ngày tế lễ tưởng niệm.

Thương tiếc và tưởng nhớ đến công lao của ông, dân làng tôn ông làm Thành hoàng làng và dựng đền trên đất nhà ông để thờ tự.

Đến năm 1914, làng tu sửa đền thành đình.

Các đời vua phong sắc: Tế Thế Hựu Dân, Hiền Lương Dực Bảo, Khai Quốc Đại Vương.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]