Bước tới nội dung

Căn cứ Hải quân vịnh Guantánamo

Căn cứ Hải quân Vịnh Guantanamo
Sân bay Leeward Point
Vịnh Guantánamo Cuba
Ảnh chụp từ trên cao của Bulkeley Hall, tòa nhà trụ sở và hành chính tại Căn cứ Hải quân Vịnh Guantanamo
Vịnh NS Guantanamo trên bản đồ Cuba
Vịnh NS Guantanamo
Vịnh NS Guantanamo
Vị trí của Căn cứ Hải quân Vịnh Guantanamo ở Cuba
Tọa độ19°55′3″B 75°09′36″T / 19,9175°B 75,16°T / 19.91750; -75.16000
LoạiCăn cứ Quân đội Hoa Kỳ
Thông tin địa điểm
Sở hữuChính phủ Cuba (de jure)
Chính phủ liên bang Hoa Kỳ (de facto)
Người điều khiểnHải quân Hoa Kỳ
Kiểm soát bởiVùng Hải quân Đông Nam
Điều kiệnĐang vận hành
Websitehttps://cnrse.cnic.navy.mil/Installations/NS-Guantanamo-Bay/
Lịch sử địa điểm
Xây dựng1903; 123 năm trước (1903)
Sử dụng1903 – hiện tại
Thông tin đơn vị đồn trú
Chỉ huy hiện tạiĐại úy Mike "Heavin'" Stephen
Đơn vị đồn trúLực lượng đặc nhiệm liên hợp Guantanamo
Thông tin sân bay
Định danhIATA: NBW, ICAO: MUGM, WMO: 783670
Độ cao17 mét (56 ft) AMSL
Các đường băng
Hướng Chiều dài và bề mặt
10/28 2.438 mét (7.999 ft) Nhựa đường

Căn cứ Hải quân Vịnh Guantanamo (tiếng Tây Ban Nha: Base Naval de la Bahía de Guantánamo), tên chính thức là Trạm Hải quân Vịnh Guantanamo (NSGB, GTMO/Gitmo)[1] là một căn cứ quân sự của Hoa Kỳ rộng khoảng 117 km² bao gồm cả phần đất liền và mặt nước tại phía đông nam Cuba.[2] ​Được thành lập từ năm 1903 với vai trò ban đầu là trạm tiếp than và căn cứ hải quân,[3] đây là căn cứ hải quân hải ngoại lâu đời nhất của Mỹ và hiện vẫn thuộc quyền tài phán thực tế của quốc gia này.[4] Để thuê vịnh, Hoa Kỳ chi trả một khoản tiền hàng năm cho chính phủ Cuba.[5][6] Mức giá thuê ban đầu là 2.000 USD (thanh toán bằng vàng), đến năm 1934 được điều chỉnh theo giá trị quy đổi của vàng và duy trì ở mức tương đương 4.085 USD thời điểm đó (khoảng 98.314 USD theo giá trị hiện nay).[7]

Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 1959, chính phủ Cuba liên tục phản đối sự hiện diện của Mỹ, cho rằng căn cứ này được thiết lập bằng vũ lực và bất hợp pháp theo luật pháp quốc tế. Hợp đồng thuê quy định việc chấm dứt chỉ xảy ra khi có sự đồng thuận của hai bên hoặc Mỹ tự nguyện rút quân. Từ năm 2002, căn cứ hải quân này duy trì trại giam Vịnh Guantanamo để giam giữ những người bị cáo buộc là chiến binh bất hợp pháp trong cuộc chiến chống khủng bố tại Afghanistan, Iraq và các khu vực khác. Việc quân đội Mỹ[8] bị cáo buộc tra tấn tù nhân và từ chối áp dụng Công ước Geneva đã vấp phải nhiều chỉ trích.[9][10] Căn cứ này cũng trở thành tâm điểm tranh luận về quyền tự do dân sự, đặc biệt sau phán quyết năm 2008 của Tòa án Tối cao Mỹ trong vụ Boumediene v. Bush, khẳng định quyền hiến pháp của người bị giam giữ trong việc khiếu nại lệnh giam giữ, làm nổi bật căng thẳng giữa an ninh quốc gia và quyền tự do dân sự.[11][12]

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ Vịnh Guantánamo thể hiện ranh giới Căn cứ Hải quân Mỹ
Bản đồ chi tiết, phóng to của Căn cứ Hải quân Vịnh Guantánamo

Căn cứ hải quân này nằm trên ba khu vực địa lý chính: Mũi Leeward, Mũi Windward và vịnh Guantánamo. Vịnh Guantánamo chia cắt các khu vực của căn cứ và kéo dài qua ranh giới vào sâu trong lãnh thổ Cuba (nơi gọi là Bahía de Guantánamo). Trong vịnh có một số đảo nhỏ, gồm đảo Hospital, đảo Medico, đảo Bắc Toro và đảo Nam Toro.

Mũi Leeward có một sân bay và các đặc điểm địa lý nổi bật như vịnh Mohomilla và sông Guantánamo. Nơi đây có ba bãi biển, trong đó hai bãi mở cửa cho cư dân căn cứ sử dụng, còn bãi Hicacal bị đóng cửa. Gần đó là Nghĩa trang Hải quân Hoa Kỳ tại Vịnh Guantanamo (nghĩa trang Cuzco Wells) với hơn 350 ngôi mộ. Trong số đó có mộ của Đại úy Henry Smith, người tử thương do tàu ngầm Đức U-600 đánh chìm tàu SS Delmundo vào ngày 13 tháng 8 năm 1942.[13]

Mũi Windward là nơi tập trung phần lớn hoạt động của căn cứ hải quân, sở hữu 9 bãi biển dành cho nhân viên. Điểm cao nhất tại đây là đồi John Paul Jones, đặt theo tên vị anh hùng trong Chiến tranh giành độc lập Mỹ, với độ cao 151 m. Địa hình bờ biển có nhiều vịnh nhỏ và bán đảo, rất thuận tiện cho tàu thuyền neo đậu. Nhà văn Stephen Crane từng mô tả cảnh quan nơi này gồ ghề, bị chia cắt bởi các khe núi,[14] cùng đường duyên hải bao bọc bởi những rặng núi và vách đá phấn trắng.[14]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]
Căn cứ vào năm 1916

Thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha

[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực xung quanh Vịnh Guantánamo ban đầu là nơi sinh sống của người Taíno.[15] Ngày 30 tháng 4 năm 1494, trong chuyến hải hành thứ hai, Christopher Columbus đã đặt chân đến và nghỉ lại qua đêm tại nơi nay gọi là Mũi Ngư Dân. Columbus tuyên bố chủ quyền và đặt tên cho vịnh là Puerto Grande.[16] Trong Chiến tranh Tai Jenkins, vịnh và các vùng lân cận từng bị Anh kiểm soát ngắn hạn. Trước đó, các nhà bản đồ học người Anh gọi nơi này là Cảng Walthenham, sau đó lực lượng viễn chinh Anh đổi tên thành Vịnh Cumberland. Cuối cùng, quân Anh phải rút lui sau khi ý định tiến công về Santiago de Cuba bị quân đội Tây Ban Nha đẩy lùi.[16]

Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh Tây Ban Nha - Mỹ năm 1898, hạm đội Mỹ tấn công Santiago[17] đã chiếm vịnh Guantánamo làm nơi trú ẩn qua mùa bão. Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ với sự hỗ trợ của hải quân, phối hợp cùng lực lượng Cuba đánh bại quân đội Tây Ban Nha. Hiện nay, một tượng đài trên đồi McCalla được dựng lên để tưởng niệm một sĩ quan hải quân và năm lính thủy quân lục chiến tử trận trong trận chiến này.[18]

Cuộc chiến kết thúc bằng Hiệp ước Paris năm 1898, theo đó Tây Ban Nha chính thức từ bỏ quyền kiểm soát Cuba. Dù vậy, Hoa Kỳ vẫn duy trì lực lượng quân sự mạnh mẽ tại đây. Năm 1901, chính phủ Hoa Kỳ thông qua Tu chính án Platt thuộc Dự luật Ngân sách Quân đội,[19] trong đó Mục VII quy định:

Nhằm cho phép Hoa Kỳ bảo hộ nền độc lập và bảo vệ người dân Cuba, cũng như để tự vệ, chính phủ Cuba sẽ bán hoặc cho Hoa Kỳ thuê các khu đất cần thiết làm trạm tiếp than hoặc căn cứ hải quân tại một số địa điểm cụ thể do Tổng thống Hoa Kỳ thỏa thuận.[20]

Sau sự phản kháng ban đầu của Hội đồng Lập hiến Cuba, Tu chính án Platt đã được đưa vào Hiến pháp nước này năm 1901.[21] Sau khi Hiến pháp có hiệu lực vào năm 1902, Cuba đã nhượng quyền sử dụng đất tại Vịnh Guantanamo cho Hoa Kỳ để làm căn cứ hải quân vào năm sau.[22]

Thỏa thuận thuê dài hạn

[sửa | sửa mã nguồn]
Thỏa thuận cho Hoa Kỳ thuê đất làm trạm tiếp than và căn cứ hải quân tại Cuba
Ngày kí16 tháng 2 năm 1903 (1903-02-16);
23 tháng 2 năm 1903
Nơi kíHavana; Washington
Ngày đưa vào hiệu lực23 tháng 2 năm 1903
Bên kí
Trích dẫnTS 418; 6 Bevans 1113
Thỏa thuận quy định điều kiện thuê trạm tiếp than hoặc căn cứ hải quân
Ngày kí2 tháng 7 năm 1903 (1903-07-02)
Nơi kíHavana
Ngày đưa vào hiệu lực6 tháng 10 năm 1903
Bên kí
Trích dẫnTS 426; 6 Bevans 1120

Thỏa thuận thuê đất năm 1903 không quy định thời hạn cố định,[23] được ký kết thành hai phần. Phần đầu tiên ký vào tháng 2 gồm các điều khoản sau:[22]

  1. Hiệp định – Nhằm duy trì nền độc lập của Cuba, Hoa KỳCộng hòa Cuba sẽ ký hợp đồng thuê đất để xây dựng các Căn cứ Hải quân Mỹ.[24]
  2. Điều 1 - Quy định về ranh giới các khu vực cho thuê tại Vịnh Guantánamo và Vịnh Honda (Bahía Honda).
  3. Điều 2 - Hoa Kỳ chỉ được phép sử dụng và cải tạo các cơ sở vật chất để phục vụ mục đích làm trạm tiếp than và căn cứ hải quân. Tàu thuyền thương mại của Cuba được tự do qua lại khu vực này.
  4. Điều 3 - Cuba vẫn giữ chủ quyền tối cao, nhưng trong thời gian sử dụng, Hoa Kỳ thực hiện quyền tài phán duy nhất đối với các khu vực tại Điều 1. Theo thỏa thuận, Hoa Kỳ có quyền mua hoặc trưng dụng bất kỳ vùng đất nào trong khu vực đó.

Phần thứ hai, được ký kết năm tháng sau đó vào tháng 7 năm 1903, gồm các điều khoản sau:[25]

  1. Điều 1 - Khoản tiền thuê hàng năm là 2.000 đồng tiền vàng. Toàn bộ đất tư nhân trong ranh giới sẽ do Cuba thu hồi, với nguồn tiền thuê được Hoa Kỳ ứng trước để thuận tiện cho việc bồi thường.
  2. Điều 2 - Hoa Kỳ sẽ đài thọ chi phí khảo sát mặt bằng và cắm mốc ranh giới bằng hàng rào.
  3. Điều 3 - Không được phép tiến hành các hoạt động thương mại hay kinh doanh khác trong phạm vi khu đất thuê.
  4. Điều 4 - Dẫn độ tội phạm.
  5. Điều 5 - Không phải cảng nhập cảnh.
  6. Điều 6 - Tàu thuyền phải chấp hành quy định của cảnh sát cảng Cuba. Phía Mỹ sẽ không cản trở việc ra vào vịnh này.
  7. Điều 7 - Đề xuất có hiệu lực bảy tháng.

Được ký bởi Theodore RooseveltJose M Garcia Montes.

Năm 1934, Hoa Kỳ đơn phương chuyển phương thức thanh toán từ tiền vàng sang đô la Mỹ theo Đạo luật Dự trữ Vàng. Dựa trên giá vàng thời điểm đó, tiền thuê được ấn định ở mức 3.386,25 đô la Mỹ.[26] Do giá vàng tiếp tục tăng, Hoa Kỳ đã điều chỉnh mức thuê lên 3.676,50 đô la vào năm 1973 và 4.085 đô la vào năm 1974.[27] Dù các khoản tiền vẫn được gửi hàng năm, phía Cuba chỉ nhận một tấm séc duy nhất kể từ sau Cách mạng Cuba, do Fidel Castro tuyên bố nhận nhầm vào năm 1959. Kể từ đó, chính phủ Cuba không rút thêm bất kỳ khoản tiền thuê nào khác.[28]

Những mảnh vỡ từ năm 1906

Trước và trong Thế chiến II

[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ hải quân này trở thành nơi huấn luyện mùa đông chính cho hạm đội Đại Tây Dương. Do quân số tăng mạnh trong thời gian huấn luyện, căn cứ nhanh chóng xây dựng các cơ sở hậu cần. Hệ thống bốn trường bắn chính của hạm đội tại Vịnh Guantanamo được khởi công từ năm 1905. Quy mô lớn của căn cứ khiến một số khu vực phải đóng cửa để phục vụ hoạt động diễn tập bắn súng. Tuy nhiên, chính quy mô và chi phí vận hành quá lớn của hệ thống trường bắn bê tông này đã dẫn đến sự thoái trào của nó. Các tài liệu cho thấy trường bắn của hạm đội vẫn được sử dụng suốt Thế chiến I và giai đoạn đầu Thế chiến II.[29]

Trong Thế chiến II, căn cứ này được thiết lập để phục vụ các hoạt động bưu chính quân sự thông qua Bưu điện Hạm đội Đại Tây Dương tại Thành phố New York (địa chỉ: 115 FPO NY).[30] Đây cũng là điểm trung chuyển quan trọng cho các đoàn tàu vận tải thương mại từ Thành phố New YorkKey West (Florida) đến Kênh đào Panama, cùng các đảo Puerto Rico, JamaicaTrinidad và Tobago.[31]

Thời kỳ Chiến tranh Lạnh và hậu chiến

[sửa | sửa mã nguồn]
Ranh giới căn cứ MỹCuba, Căn cứ hải quân Vịnh Guantanamo, năm 2011
Căn cứ hải quân Vịnh Guantanamo khoảng năm 1952

Giai đoạn 19531959, hàng ngàn lao động Cuba hằng ngày di chuyển từ bên ngoài vào làm việc trong căn cứ. Đến giữa năm 1958, việc đi lại bằng phương tiện cơ giới bị cấm, buộc công nhân phải đi bộ qua các cổng kiểm soát. Ngay sau đó, hệ thống xe buýt công cộng đã được huy động để đưa đón công nhân tại khu vực cổng căn cứ.

"Bức màn xương rồng" là thuật ngữ mô tả đường phân chia căn cứ hải quân với lãnh thổ do Cuba kiểm soát,[14] ẩn dụ theo Bức màn sắtchâu Âu,[32] Bức màn treĐông Á và Bức màn băng tại eo biển Bering. Sau Cách mạng Cuba, một số người dân đã tìm cách tị nạn tại Căn cứ Hải quân Vịnh Guantanamo. Đến cuối năm 1961, quân đội Cuba đã trồng một hàng rào xương rồng lê gai dài 13 km, rộng 3 m[33] dọc theo phía đông bắc tuyến rào bao quanh căn cứ, nhằm ngăn chặn việc vượt biên trái phép ngoài các trạm kiểm soát.[33][34]

Hàng rào này tạo thành một phần của "vùng đất không người" bao quanh căn cứ,[33] bao gồm các đội tuần tra, tiền đồn bao cát, tháp canh,[14] cùng hệ thống dây thép gai, bãi mìn và các rặng xương rồng.[33] Cả quân đội Hoa KỳCuba đều dựng lên, duy trì hệ thống phòng thủ này nhằm ngăn chặn việc vượt trạm kiểm soát trái phép và phòng ngừa nguy cơ xâm lược từ phía đối phương.[33]

Binh lính Mỹ tập kết mìn để tiêu hủy, tháng 7/1997

Quân đội MỹCuba từng đặt khoảng 55.000 quả mìn chống bộ binh và chống tăng tại "vùng đất không người" quanh căn cứ,[33] tạo nên bãi mìn lớn thứ hai thế giới và lớn nhất Tây bán cầu.[14] Ban đầu, phía Mỹ gài mìn với thông báo đây là "biện pháp phòng ngừa", không phải "hành động gây hấn".[33] Để đáp trả, Cuba cũng triển khai gài mìn và hai bên hoàn thành hệ thống này vào năm 1961.[33] Trong giai đoạn 19611965, các vụ nổ mìn do tai nạn kỹ thuật hoặc xâm nhập trái phép đã khiến ít nhất 10 người thiệt mạng.[33] Đến ngày 16/5/1996, Tổng thống Mỹ Bill Clinton ra lệnh rà phá phần bãi mìn của Mỹ và thay thế bằng hệ thống cảm biến chuyển động, âm thanh. Trong khi đó, chính phủ Cuba hiện vẫn chưa dỡ bỏ bãi mìn thuộc phạm vi của mình.[35][36]

Trong cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, thân nhân các quân nhân tại căn cứ đã được sơ tán. Nhận thông báo vào ngày 22 tháng 10, mỗi người chỉ được mang một vali, chuẩn bị đầy đủ giấy tờ sơ tán và tiêm chủng, xích vật nuôi trong sân, để lại chìa khóa trên bàn và đợi xe buýt đón.[37] Họ tập trung tại sân bay hoặc bến cảng để di chuyển về Hoa Kỳ. Đến tháng 12 năm 1962, sau khi khủng hoảng kết thúc, các gia đình mới được phép trở lại căn cứ.[38]

Từ năm 1939, căn cứ này được cung cấp nước qua đường ống dẫn từ sông Yateras (cách đó khoảng 7 km về phía đông bắc) và chính phủ Mỹ có trả phí. Đến năm 1964, chi phí khoảng 14.000 đô la mỗi tháng cho 9 triệu lít nước mỗi ngày. Cùng năm đó, phía Cuba ngừng cấp nước, buộc căn cứ phải áp dụng các biện pháp tiết kiệm nghiêm ngặt bằng nguồn nước dự trữ khoảng 50 triệu lít. Ban đầu, Mỹ dùng sà lan nhập khẩu nước từ Jamaica, sau đó di dời một nhà máy khử mặn từ San Diego về đây. Khi Cuba cáo buộc Mỹ "ăn cắp nước", chỉ huy căn cứ John D. Bulkeley đã ra lệnh cắt, tháo dỡ một số đoạn ống và bịt kín các đầu ống để làm bằng chứng phản bác.

Trong thập niên 19601970, căn cứ này từng xảy ra tình trạng lạm dụng rượu cồn và căng thẳng sắc tộc,[14] cùng với việc công nhân Cuba thường xuyên bị quấy rối, khám xét. Kể từ khi chính phủ Cuba cấm tuyển dụng mới vào năm 1959, số lượng nhân sự giảm dần.[33] Đến năm 2006, chỉ còn hai công nhân lớn tuổi là Luis DelarosaHarry Henry hàng ngày qua Cổng Đông Bắc để làm việc tại đây, cho đến khi cả hai cùng nghỉ hưu vào cuối năm 2012.[39]

Một số khẩu súng cũ từ tàu USS Monongahela (1862) đã được trục vớt và đặt quanh căn cứ. Chiếc tàu chiến này từng làm nhiệm vụ tiếp tế tại Guantanamo cho đến khi bị hỏa hoạn thiêu rụi vào ngày 17 tháng 3 năm 1908. Một khẩu pháo 4 inch (100 mm) trục vớt từ xác tàu hiện được trưng bày tại đây; do bị biến dạng bởi nhiệt độ cao của vụ cháy, nó được đặt biệt danh là "Ole Droopy".[40] Ngoài ra, một khẩu pháo tương tự, nhiều khả năng cũng lấy từ tàu Monongahela, đang được trưng bày gần Câu lạc bộ Bay View.

Quy chế pháp lý của căn cứ này đôi khi được so sánh với các căn cứ có chủ quyền (như của Anh tại Síp),[41] dù có điểm khác biệt là dựa trên hợp đồng thuê đất chứ không phải chủ quyền duy trì.

Tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc năm 2013, Bộ trưởng Ngoại giao Cuba đã yêu cầu phía Mỹ hoàn trả lại căn cứ cho nước này.[42][43][44][45][46][47]

Hoạt động hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]
Các tuabin gió trên đỉnh đồi John Paul Jones, điểm cao nhất của căn cứ

Tính đến năm 2011, căn cứ này có hơn 8.500 thủy thủ và lính thủy đánh bộ Mỹ đồn trú.[48][49] Đây là cơ sở quân sự duy nhất của Mỹ nằm tại một quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Năm 2005, Hải quân Mỹ hoàn thành dự án điện gió trị giá 12 triệu USD tại căn cứ, lắp đặt 4 tuabin cao 84 m với công suất 950 kW nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn phát điện bằng diesel chính của căn cứ.[50][51] Đến năm 2006, hệ thống tuabin này đã giúp tiết kiệm khoảng 2,5 triệu lít (650.000 gallon) dầu diesel mỗi năm.[52]

Đơn vị và chỉ huy

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc tiếp cận căn cứ hải quân rất hạn chế và phải được phê duyệt qua hệ thống chỉ huy cấp có thẩm quyền, với sự chuẩn y cuối cùng của chỉ huy căn cứ. Do năng lực tiếp đón có hạn, khách tham quan phải có bảo lãnh chứng minh đã có nơi lưu trú được phê duyệt trong suốt thời gian lưu lại.[53]

Đơn vị cư trú
  • Trụ sở Căn cứ Hải quân Vịnh Guantanamo
  • Quầy dịch vụ khách hàng[54]
  • Bộ tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm Liên hợp Guantanamo[54][55]
  • Đại đội An ninh Thủy quân lục chiến[54]
  • Phân đội Viễn thông và Máy tính Hải quân Đại Tây Dương tại Vịnh Guantanamo[54]
  • Bệnh viện Hải quân Vịnh Guantanamo[55]
  • Phân đội Hậu cần Hải quân[54]
  • Lực lượng An ninh Hải quân
  • Đại đội Công binh Hải quân
  • Phân đội Không quân Tuần duyên Hoa Kỳ tại Vịnh Guantanamo
Đơn vị điều động
  • Phi đội Hỗn hợp Hạm đội 10 (VC-10) (1965–1993)[55]
  • Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (1971–2000, đổi tên thành Đại đội Lực lượng An ninh Thủy quân Lục chiến ngày 1/9/2000)[55]
  • Đơn vị An ninh Hải quân (Đại đội L) (1966–2001)[55][56]
  • Cơ sở Bảo dưỡng Trung gian Bờ biển (SIMA) (1903–1995)[55][57]
  • Đoàn Huấn luyện Hạm đội (1943–1995)[55][58]
Tàu thuyền đăng ký cảng nhà
  • YC 1639: Sà lan chở hàng (không tự hành)[59][60]
  • Leeward (YFB-92): Tàu phà quân sự[59][61][62]
  • Windward (YFB-93): Tàu phà quân sự[59][63]
  • YON 258: Sà lan chở dầu (không tự hành)[59][64]
  • USS Wanamassa (YTB-820): Tàu kéo cảng loại lớn[59][65]
  • LCU 1671 & MK-8: Tàu đổ bộ (dùng làm phà phụ trợ để vận chuyển đến vùng nước cạn hoặc chở hàng nguy hiểm)[66]
  • GTMO-5, GTMO-6 & GTMO-7: Xuồng công vụ 50-foot (dùng chở người ngoài giờ phà chạy)[66]
Nhà thầu dân sự

Bên cạnh quân nhân, căn cứ này là nơi trú ngụ của lượng lớn nhà thầu dân sự phục vụ cho quân đội. Nhiều người trong số họ là lao động nhập cư từ JamaicaPhilippines, ước tính chiếm đến 40% dân số tại căn cứ.[67]

Các nhà thầu chính tại căn cứ gồm:

  • KBR
  • Công ty Vận tải đường thủy Schuyler Line
  • Công ty TNHH Hệ thống Truyền thông Vệ tinh Centerra
  • EMCOR
  • Nhà thầu Cơ khí Island Mechanical
  • Công ty Quản lý Xây dựng Munilla (MCM)
  • Công ty Xây dựng RQ
  • Dịch vụ Toàn cầu J&J

Vận tải hàng hóa

[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động vận tải biển do hãng tàu Schuyler Line treo cờ Mỹ đảm nhiệm. Công ty này hoạt động theo hợp đồng với chính phủ để cung cấp vật tư hậu cần và xây dựng cho căn cứ.[68]

Căn cứ này có hai sân bay là Leeward Point và McCalla. Trong đó, Leeward Point là sân bay quân sự đang hoạt động (mã ICAO: MUGM, mã IATA: NBW).[69] Sân bay McCalla từng được chuyển thành sân bay phụ trợ vào những năm 1970 và đã ngừng hoạt động từ thập niên 1990.[55]

Sân bay Leeward Point được xây dựng năm 1943 với đường băng chính dài hơn 1.800 m,[70] sau đó mở rộng lên hơn 2.400 m vào năm 1953 để phục vụ máy bay phản lực.[71] Hiện tại, sân bay vận hành một đường băng hoạt động duy nhất (mã 10/28)[69] cùng một số máy bay và trực thăng hỗ trợ căn cứ; đường băng cũ (mã 9/27) dài khoảng 2.600 m đã dừng hoạt động. Nơi đây từng là căn cứ của Phi đội hỗn hợp Hạm đội 10 (VC-10) một trong những đơn vị cuối cùng sử dụng máy bay Douglas A-4 Skyhawk trước khi giải thể vào năm 1993.

Sân bay McCalla hoạt động từ năm 1931[71] đến năm 1970, được đặt theo tên Đô đốc Bowman H. McCalla. Sau khi đường băng cỏ ban đầu được nâng cấp vào năm 1941,[72] sân bay đón nhận nhiều loại phi cơ[73] và khinh khí cầu hoạt động thường xuyên. Đến thập niên 1990, nơi đây trở thành địa điểm tiếp nhận người tị nạn CubaHaiti trước khi các trại này bị dỡ bỏ vào giai đoạn 19962001,[74] để lại một quần thể công trình bỏ hoang.[75] Sau sự kiện ngày 11 tháng 9, khu vực sân bay cũ vốn có ba đường băng đã đóng cửa, được chuyển đổi công năng thành Trại Justice (Trại Công lý).[75]

Trại giam

[sửa | sửa mã nguồn]
Lối vào Trại 1 thuộc Trại Delta của trại giam

Từ quý cuối thế kỷ 20, căn cứ này được dùng để lưu giữ người tị nạn CubaHaiti bị chặn trên biển. Đầu thập niên 1990, nơi đây giữ người Haiti lánh nạn sau cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Jean-Bertrand Aristide. Họ bị lưu giữ tại Trại Bulkeley cho đến khi Thẩm phán Tòa án Quận Hoa Kỳ Sterling Johnson, Jr. tuyên bố trại này vi hiến, dù phán quyết sau đó bị hủy bỏ. Những người di cư Haiti cuối cùng đã rời Guantanamo vào tháng 11 năm 1995.

Kể từ năm 2002, sau khi Mỹ can thiệp quân sự vào Afghanistan, một phần nhỏ của căn cứ được dùng để giam giữ hàng trăm cá nhân bị nghi có liên hệ với các tổ chức khủng bố như al-QaedaTaliban. Những người này không được công nhận là tù binh chiến tranh hay bị truy tố chính thức, mà bị phân loại là "chiến binh thù địch" và giam giữ tại các trại như Delta, Echo, Iguana và X-Ray. Trong các vụ kiện về quyền lợi của tù nhân tại đây, Tòa án Tối cao Mỹ phán quyết rằng họ được hưởng quyền bảo xét xử theo đúng thủ tục pháp lý (Tu chính án thứ năm) do căn cứ nằm trong vùng quyền tài phán độc quyền của Mỹ.[76] Sau đó, một tòa án cấp quận cũng tuyên bố Công ước Geneva áp dụng cho các tù nhân thuộc Taliban, nhưng không áp dụng cho thành viên al-Qaeda.[77]

Ngày 10 tháng 6 năm 2006, Bộ Quốc phòng Mỹ thông báo ba tù nhân tại Vịnh Guantanamo đã tự sát bằng cách treo cổ từ dây bện bằng ga trải giường và quần áo.[78] Dù không đưa ra kết luận về diễn biến thực tế, nghiên cứu từ Trung tâm Chính sách và Nghiên cứu thuộc Trường Luật Seton Hall khẳng định cuộc điều tra của quân đội đã bỏ sót nhiều vấn đề quan trọng.[79]

Ngày 6/9/2006, Tổng thống George W. Bush tuyên bố chuyển giao các nghi phạm khủng bố do CIA giam giữ sang Bộ Quốc phòng để quản lý tại Nhà tù Guantanamo. Trong số khoảng 500 tù nhân tại đây, mới có 10 người bị ủy ban quân sự xét xử, nhưng tất cả các vụ án đều phải tạm dừng để điều chỉnh theo phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trong vụ Hamdi v. Rumsfeld.[80]

Tháng 1 năm 2009, Tổng thống Barack Obama ký sắc lệnh hành pháp chỉ đạo đóng cửa trại giam Guantánamo trong vòng một năm.[81] Tuy nhiên, kế hoạch bị hủy bỏ vào tháng 5 sau khi Thượng viện Hoa Kỳ bỏ phiếu duy trì hoạt động của nhà tù này và cấm chuyển tù nhân về đại lục. Thượng nghị sĩ Dân chủ Daniel Inouye, Chủ tịch Ủy ban Phân bổ Ngân sách, tuyên bố chỉ ủng hộ việc đóng cửa khi có kế hoạch cụ thể.[82] Đến tháng 3 năm 2011, Tổng thống Obama ban hành sắc lệnh mới cho phép giam giữ vô thời hạn các tù nhân tại đây,[83] điều khoản này sau đó đã được luật hóa thông qua Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng năm 2012.[84]

Tháng 2 năm 2021, chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden tuyên bố ý định đóng cửa cơ sở này trước khi kết thúc nhiệm kỳ,[85] nhưng mục tiêu này chưa hoàn thành. Đến tháng 7 năm 2021, một tù nhân được trả tự do.[86] Tháng 6 năm 2022, một công dân Afghanistan bị giam giữ khoảng 15 năm tại vịnh Guantanamo mà không qua xét xử cũng được phóng thích.[87] Trong năm 2023, thêm nhiều tù nhân được trả tự do sau khi được đánh giá không còn là mối đe dọa an ninh quốc gia đối với Mỹ: tháng 2 gồm Majid Khan (chuyển đến Belize sau khi mãn hạn tù 10 năm)[88] cùng hai anh em nhà Rabbani (hồi hương về Pakistan);[89] tháng 3 có Ghassan al-Sharbi (hồi hương về Ả Rập Xê Út).[90] Tính đến ngày 6 tháng 1 năm 2025, 15 tù nhân vẫn còn ở Vịnh Guantanamo.

Tháng 6 năm 2023, Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về nhân quyền và chống khủng bố Fionnuala Ní Aoláin công bố báo cáo cuối cùng về trung tâm giam giữ này. Báo cáo kết luận các tù nhân phải chịu sự đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, hạ thấp phẩm giá liên tục và khuyến nghị đóng cửa cơ sở này.[91][92][93]

Đầu năm 2025, chính quyền Trump bắt đầu chuyển nhiều người nhập cư bất hợp pháp đến đó, đồng thời tuyên bố dự định đưa những người phạm tội nghiêm trọng nhất vào nhà tù này. Nhiều tổ chức và cá nhân đã khởi kiện phản đối, cho rằng trại viên không được tiếp cận luật sư hay quyền bảo thân, và điều kiện giam giữ khắc nghiệt đến mức một số người đã tìm cách tự tử.[94]

Doanh nghiệp thành viên

[sửa | sửa mã nguồn]
Nhà hàng McDonald's tại Guantanamo năm 2006

Bất chấp lệnh cấm thành lập "các doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp khác" tại Điều 3 thuộc phần hai của hợp đồng thuê, một số cửa hàng thực phẩm nổi tiếng của Mỹ vẫn được mở tại căn cứ. Hầu hết các nhà hàng tại đây đều hoạt động theo hình thức nhượng quyền do Bộ Hải quân quản lý,[95] nhằm lấy doanh thu hỗ trợ các hoạt động phúc lợi, tinh thần và giải trí cho quân nhân cùng gia đình.[96] Do nằm hoàn toàn trong khuôn viên căn cứ, người dân Cuba không thể tiếp cận các nhà hàng này.

Một quầy kem Baskin-Robbins mở từ thập niên 1980 là một trong những thương hiệu kinh doanh đầu tiên được phép hoạt động tại căn cứ này.[97] Đầu năm 1986, căn cứ bổ sung cửa hàng McDonald's đầu tiên và duy nhất tại Cuba.[98][99] Nhà hàng Subway mở năm 1987 nhưng đóng cửa vào năm 1994 do không được gia hạn hợp đồng.[100] Đến năm 2004, một cửa hàng kết hợp KFCA&W được mở tại khu bowling, cùng một tiệm Pizza Hut Express tại nhà hàng Windjammer.[101] Căn cứ này cũng có một quán cà phê Starbucks và một nhà hàng kết hợp KFC với Taco Bell.[102]

Giáo dục và trường học

[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan Giáo dục Bộ Quốc phòng vận hành hai trường học dành cho con em nhân viên tại căn cứ, đều được đặt theo tên Chuẩn Đô đốc William Thomas Sampson. Trong đó, Trường Tiểu học WT Sampson đào tạo từ mẫu giáo đến lớp 5, còn Trường Trung học WT Sampson giảng dạy từ lớp 6 đến lớp 12. Ngoài ra, Trung tâm Phát triển Trẻ em Villamar tiếp nhận chăm sóc trẻ từ sáu tuần đến năm tuổi, và tổ chức MWR cũng điều hành một trung tâm thanh niên nhằm cung cấp các hoạt động bổ ích cho con em của nhân viên tại đây.[103]

Một số cựu học sinh Guantánamo đã chia sẻ trải nghiệm của họ với Dự án Ký ức Công cộng Guantánamo.[104] Bộ phim tài liệu Guantanamo Circus (2013) của Christina LinhardtMichael Rose cũng phác họa cuộc sống thường nhật tại căn cứ này qua góc nhìn của các nghệ sĩ xiếc,[105] và được dự án trên sử dụng làm tài liệu tham khảo.

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ này có lượng mưa hàng năm khoảng 610 mm,[106] thuộc vùng khí hậu xavan nhiệt đới bán khô hạn.[106] Nhiệt độ trung bình tại đây dao động từ 22,5 °C đến 31,2 °C.

Dữ liệu khí hậu của Vịnh Guantanamo
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình ngày tối đa °F (°C) 84
(29)
84
(29)
86
(30)
88
(31)
88
(31)
90
(32)
91
(33)
91
(33)
91
(33)
90
(32)
88
(31)
86
(30)
88.2
(31.2)
Trung bình ngày tối thiểu °F (°C) 68
(20)
68
(20)
70
(21)
72
(22)
73
(23)
75
(24)
75
(24)
75
(24)
75
(24)
75
(24)
73
(23)
70
(21)
72.5
(22.5)
Lượng Giáng thủy trung bình inches (mm) 1.0
(25)
0.9
(23)
1.2
(30)
1.3
(33)
3.6
(91)
2.1
(53)
1.1
(28)
1.9
(48)
3.1
(80)
5.1
(130)
1.8
(46)
1.1
(28)
24.4
(620)
Nguồn: Weatherbase[107]

Những người đáng chú ý

[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhân vật nổi tiếng sinh ra tại căn cứ hải quân này bao gồm nam diễn viên Peter Bergman[108] và nghệ sĩ guitar Isaac Guillory.[109]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "File:US Navy 040813-N-6939M-002 Commissions building courtroom at Guantanamo Bay, Cuba.jpg". ngày 13 tháng 8 năm 2004.
  2. Rosenberg, Carol (ngày 25 tháng 10 năm 2018). "Guantánamo By the Numbers". Miami Herald. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2021. Size of Navy base: 45 square miles, straddling Guantánamo Bay, from prison camp to air strip.
  3. Suellentrop, Chris (ngày 18 tháng 1 năm 2002). "How Did the U.S. Get a Naval Base in Cuba?". Slate. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018.
  4. Miroff, Nick (ngày 15 tháng 5 năm 2025). "Why the U.S. base at Cuba's Guantanamo Bay is probably doomed". Washington Post. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018.
  5. Elsea, Jennifer K.; Else, Daniel H. (ngày 17 tháng 11 năm 2016). Naval Station Guantanamo Bay: History and Legal Issues Regarding Its Lease Agreements (PDF). Washington, D.C.: Congressional Research Service. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2016.
  6. "Naval Station Guantanamo Bay (NSGB)". United States Navy (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2025. A 1934 treaty reaffirming the lease granted Cuba and her trading partners free access through the Bay, modified the lease payment from $2,000 in gold coins per year to the 1934 equivalent value of $4,085 U.S. dollars.
  7. Sweeney, Joseph C. (2006). "Guantanamo and U.S. Law". Fordham International Law Journal. 30 (3): 22.
  8. "GTMO CTD Inspection Special Inquiry" (PDF). Federal Bureau of Investigation. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2011.
  9. "Article 10: Right to fair public hearing by independent tribunal". BBC World Service. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2012.
  10. "Agenda Item 17 base naval". cubaminrex.cu. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2004.
  11. Carlisle, Madeleine (ngày 11 tháng 9 năm 2021). "How 9/11 Radically Expanded The Power of the U.S. Government". TIME (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2024.
  12. Yoo, John (ngày 17 tháng 6 năm 2008). "The Supreme Court Goes to War". Wall Street Journal.
  13. Wiberg, Eric (ngày 6 tháng 7 năm 2013). "Passenger ship Delmundo lost in the Windward Passage to U-600". Eric Wiberg Nautical Author & Historian. Eric Troels Wiberg. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2024.
  14. 1 2 3 4 5 6 Benz, Stephen (2018). "Overlooking Guantánamo". New England Review. Quyển 39 số 4. tr. 114–128. doi:10.1353/ner.2018.0116. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên ":0" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  15. Poole, Robert M. (tháng 10 năm 2011). "What Became of the Taino". Smithsonian Magazine. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2012.
  16. 1 2 Murphy, M. E. "The History of Guantanamo Bay 1494–1964". United States Navy. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2012.
  17. "The Santiago Campaign | Battlefields | Cuban Battlefields of the Spanish-Cuban-American War". cubanbattlefields.unl.edu. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2019.
  18. "Dayhoff: Happy Birthday, United States Marine Corps". ngày 9 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2021.
  19. 1901 Platt Amendment commentary at the United States Archives online
  20. "Our Documents - Transcript of Platt Amendment (1903)". www.ourdocuments.gov. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2021.
  21. "The Platt Amendment is Accepted by Cuba" (PDF). The New York Times. ngày 13 tháng 6 năm 1901. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016.
  22. 1 2 Agreement Between the United States and Cuba for the Lease of Lands for Coaling and Naval stations, 1903.
  23. Suellentrop, Chris (ngày 18 tháng 1 năm 2002). "How Did the U.S. Get a Naval Base in Cuba?". Slate. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018.
  24. Treaties and Other International Agreements of the United States of America, 1776-1949: Canada-Czechoslovakia (bằng tiếng Anh). Department of State. 1968.
  25. Lease to the United States by the Government of Cuba of Certain Areas of Land and Water for Naval or Coaling Stations in Guantanamo and Bahia Honda U.S. Federal Government, 1903.
  26. Green, Timothy (1999). Central bank gold reserves: An historical perspective since 1845 (PDF). World Gold Council. OCLC 43033613. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2010 qua famguardian.org.
  27. Strauss, Michael (2009). The Leasing of Guantanamo Bay. Praeger Security International. tr. 246 and viii. ISBN 978-0-313-37782-2.
  28. Boadle, Anthony (ngày 17 tháng 8 năm 2007). "Castro: Cuba not cashing US Guantanamo rent checks". Reuters. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2016.
  29. Carrington, J. (2022). Guantanamo Bay. A Historical Mystery. Independently published ISBN 979-8-8383-0413-1
  30. "World War II Navy Post Office Numbers". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2011.
  31. Hague, Arnold The Allied Convoy System 1939–1945 Naval Institute Press 2000 ISBN 1-55750-019-3 p.111
  32. "Yankees Besieged". Time. ngày 16 tháng 3 năm 1962. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2008.
  33. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Lipman, Jana K. (ngày 2 tháng 12 năm 2008). Lewis, Earl; Lipsitz, George; Pascoe, Peggy; Sánchez, George; Takagi, Dana (biên tập). Guantanamo: A Working-Class History between Empire and Revolution. American Crossroads. Quyển 25. University of California Press. tr. 162–171. doi:10.1525/9780520942370-007. ISBN 978-0-520-94237-0. S2CID 226759322.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  34. "Guantanamo Bay Naval Base and Ecological Crises". Trade and Environment Database. American University. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2009.
  35. Rosenberg, Carol (ngày 29 tháng 6 năm 1999). "Guantanamo base free of land mines". Miami Herald. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2009.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  36. "Destination Guantanamo Bay". BBC News. ngày 28 tháng 12 năm 2001. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2006.
  37. Wiltrout, Kate (ngày 5 tháng 11 năm 2012). "Guantanamo Bay Evacuation Order, Oct. 22, 1962". The Virginian-Pilot. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2021.
  38. "History of the American Red Cross Station on NSGB". United States Navy. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2019.
  39. Leboy, Suzette; Fox, Ben. "Era Ends: Base's last two Cuban commuters retire". Miami Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012.
  40. "Ole Droopy legacy lives on".
  41. Loucaides, Darren (ngày 1 tháng 5 năm 2017). "Why are there still British military bases in Cyprus?". New Internationalist. New Internationalist. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2026.
  42. "Cuba says US must shut Guantanamo Bay". news.com.au. AAP. ngày 2 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
  43. Granma, 26 January 2012 Lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2013 tại Wayback Machine, comments on an article in the New York Times on the continued occupation of Cuba
  44. Hansen, Jonathan M. (ngày 11 tháng 1 năm 2012). "Opinion | Give Guantánamo Back to Cuba". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2021 qua Granma.
  45. "Guantanamo, Yankee naval base of crimes and provocations". Cuban Ministry of Foreign Affairs. U.S. Joint Publications Research Service biên dịch. 1970. Bản gốc (pdf) lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2013.
  46. de Zayas, Alfred (tháng 7 năm 2004). "The Status of Guantanamo Bay and the Status of the Detainees". University of British Columbia Law Review. 37: 277–342.
  47. de Zayas, Alfred (2012). "Guantanamo Naval Base". Max Planck Encyclopedia of Public International Law. Oxford University Press.
  48. "US Naval Station Guantanamo Bay". Naval Technology. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2019.
  49. Ralston, Jeannie (tháng 4 năm 2005). "09360 No-Man's-Land". National Geographic. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2006.
  50. Virginia Bueno (ngày 25 tháng 4 năm 2011). "Navy's New Wind Turbines to Save Taxpayers $1.2 Million in Annual Energy Costs" (Thông cáo báo chí). Naval Facilities Engineering Command. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2016.
  51. Snider, Annie (ngày 13 tháng 6 năm 2011). "Alternative Energy Be Gitmo's Next Legacy?". Greenwire. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025 qua The New York Times.
  52. "Wind turbines at U.S. Naval Station Guantanamo Bay reduce fuel consumption by 650,000 gallons annually". United States Navy. ngày 30 tháng 7 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2020 qua Flickr.
  53. "Section 1: General Entry Requirements" (PDF). United States Navy. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  54. 1 2 3 4 5 "Tenant Commands". United States Navy. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2012.
  55. 1 2 3 4 5 6 7 8 "Chapter 3". The History of Guantanamo Bay, 1964–1982. Quyển II. United States Navy. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012.
  56. "CNO: Shore and Fleet Organization Branch (SNDL) Collection COLL/94" (PDF). United States Navy. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2012.
  57. "US Naval Station Guantanamo Bay, Cuba". Net Resources International. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012.
  58. "Fleet Training Group Moves to Mayport". All Hands (939): 2. tháng 7 năm 1995. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015.
  59. 1 2 3 4 5 "Naval Station Guantanamo Bay, CU (NAVSTA) Custodian Assignments". Naval Vessel Register. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012.
  60. [[[:Bản mẫu:Naval Vessel Register URL]] "No Name (YC 1639) Open Lighter (NSP)"]. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  61. [[[:Bản mẫu:Naval Vessel Register URL]] "Leeward (YFB) Ferryboat or Launch (S-P)"]. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  62. [[[:Bản mẫu:Naval Vessel Register URL]] "Leeward (YFB) Ferryboat or Launch (S-P)"]. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  63. [[[:Bản mẫu:Naval Vessel Register URL]] "Windward (YFB 93)"]. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  64. [[[:Bản mẫu:Naval Vessel Register URL]] "No Name (YON 258) Fuel Oil Barge (N-S-P)"]. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  65. [[[:Bản mẫu:Naval Vessel Register URL]] "Wanamassa (YTB 820) Large Harbor Tug (S-P)"]. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  66. 1 2 "Port Operations". United States Navy. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2012.
  67. Li, Darryl (2015), "Offshoring the Army: Migrant Workers and the U.S. Military", UCLA Law Review, 62: 124–174, SSRN 2459268
  68. "Guantanamo Bay, Cuba Liner Service". Schuyler Line Navigation Company. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
  69. 1 2 "Guantanamo Bay NS". WorldAeroData. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  70. Bingham, Kenneth E., biên tập (1947). "XVII: Bases in South America and the Caribbean Area, Including Bermuda". Building the Navy's Bases in World War II: History of the Bureau of Yards and Docks and the Civil Engineer Corps, 1940-1946. Quyển 2. Washington, DC: US Government Printing Office. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2023.
  71. 1 2 "Guantanamo Bay" (PDF). Naval Aviation News. United States Navy. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2012.
  72. "Guantanamo Bay Forts". northamericanforts.com.
  73. Gillcrest, Paul (2000). "35 McCalla Field". Sea Legs. iUniverse. ISBN 978-1-4697-9797-7.
  74. "Guantánamo Public Memory Project – Repurposing Gitmo". blog.gitmomemory.org.
  75. 1 2 Greenberg, Karen (ngày 27 tháng 9 năm 2010). The Least Worst Place: Guantanamo's First 100 Days (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. tr. 48. ISBN 978-0-19-983209-5. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2021.
  76. Rasul v. Bush, 542 U.S. 466 (2004).
  77. In re Guantanamo detainee Cases, 355 F.Supp.2d 443 (D.D.C. 2005).
  78. DOD Identifies 3 Guantanamo Suicides, The Washington Post, 11 June 2006
  79. Death in Camp Delta Lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2014 tại Wayback Machine, Seton Hall University School of Law. (18 MB)
  80. "FindLaw's United States Supreme Court case and opinions". Findlaw (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2022.
  81. Shane, Scott (ngày 23 tháng 1 năm 2009). "Obama Orders Secret Prisons and Detention Camps Closed". The New York Times. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009.
  82. "Senate Nixes Obama's Guantanamo Plan". CBC News. ngày 20 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2011.
  83. "President Obama Issues Executive Order Institutionalizing Indefinite Detention" (Thông cáo báo chí). American Civil Liberties Union. ngày 7 tháng 3 năm 2011.
  84. Adam Clark Estes (ngày 31 tháng 12 năm 2011). "Obama Makes It Official: Suspected Terrorists Can Be Indefinitely Detained Without a Trial". The Atlantic. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2012.
  85. Kaufman, Ellie (ngày 12 tháng 2 năm 2021). "Biden administration says it intends to close Guantanamo prison". CNN. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2021.
  86. Rosenberg, Carol; Savage, Charlie (ngày 19 tháng 7 năm 2021). "Biden Administration Transfers Its First Detainee From Guantánamo Bay". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2021.
  87. "Afghan held at Guantanamo Bay freed after 15 years without trial". aljazeera.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2022.
  88. "Guantanamo Bay Detainee Transfer Announced". United States Department of Defense (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2023.
  89. "Guantanamo Bay Detainee Transfer Announced". United States Department of Defense (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2023.[liên kết hỏng]
  90. "Guantanamo Bay Detainee Transfer Announced". United States Department of Defense (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2023.
  91. Hernandez, Joe (ngày 27 tháng 6 năm 2023). "Guantánamo Bay detainees continue to face 'inhuman' treatment, U.N. investigator finds". National Public Radio. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2023.
  92. Bennett, Geoff; Aranda, Teresa Cebrián; Schmitz, Ali (ngày 28 tháng 6 năm 2023). "UN report criticizes treatment of inmates at Guantanamo Bay as 'cruel' and 'inhuman'". PBS NewsHour (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2023.
  93. "Technical Visit to the United States and Guantánamo Detention Facility by the Special Rapporteur on the Promotion and Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms while Countering Terrorism" (PDF). United Nations Human Rights--Office of the High Commissioner. ngày 14 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2023.
  94. Santana, Rebecca (ngày 14 tháng 3 năm 2025). "Judge rules against advocates trying to help migrants sent to Guantanamo and to stop more transfers". AP News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2025.
  95. Andrew Selsky (ngày 27 tháng 11 năm 2008). "Not just a prison, the Navy sees many uses for Guantanamo". Miami Herald. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2008.
  96. Morale, Welfare and Recreation. "Branded Food & Beverage Concepts". U.S. Navy. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2010.
  97. "U.S.-CUBAN FACE-OFF JUST DAILY DRUDGERY". Chicago Tribune. ngày 20 tháng 12 năm 1985. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
  98. Warner, Margaret (ngày 14 tháng 10 năm 2003). "INSIDE GUANTANAMO". Online NewsHour. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2006.
  99. Joseph A. Morris (ngày 15 tháng 11 năm 2002). "Profession of the Week: McDonald's workers" (PDF). The Wire (JTF-GTMO). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2009.
  100. Pellegrini, Frank N. (ngày 22 tháng 11 năm 2002). "Monday Night Football at Subway: Open until it is over" (PDF). The Wire. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2009.
  101. "Dining". JTF Guantanamo. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009.
  102. "The Military Spent $1.45 Million Opening a Starbucks and a KFC/Taco Bell in Guantanamo Bay". ngày 9 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
  103. "Naval Station Guantanamo Bay, Cuba". Department of Defense. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2011.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  104. "Guantánamo Stories". Guantánamo Public Memory Project. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
  105. "Guantanamo Circus". IMDb. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2026.
  106. 1 2 Lisio, Stephen A. (tháng 6 năm 1994). "Guantanamo Bay Naval Base and Ecological Crises". American University. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2009.
  107. "Weatherbase: Historical Weather for Guantanamo Bay, Cuba". Weatherbase. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2011. Retrieved on 24 November 2011.
  108. "Peter Bergman Biography". CBS.
  109. Flynn, Nicholas (ngày 11 tháng 1 năm 2001). "Obituary of Isaac Guillory". The Independent (London). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2019.

Đọc thêm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Alfred de Zayas (July 2004). "The Status of Guantanamo Bay and the Status of the Detainees" in University of British Columbia Law Review, vol. 37. pp. 277–34.
    • A. de Zayas (2012). "Guantanamo Naval Base" in Max Planck Encyclopedia of Public International Law. Oxford University Press.
  • Jonathan M. Hansen (2011). Guantánamo: An American History. New York: Hill and Wang.
  • Mason, Theodore K. (1984). Beyond the Cactus Curtain: The Story of Guantanamo Bay. New York: Dodd, Mead.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]