Hổ Đông Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hổ Đông Dương
Panthera tigris corbetti 01.jpg
Hổ Đông Dương
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Carnivora
Họ (familia)Felidae
Chi (genus)Panthera
Loài (species)P. tigris
Phân loài (subspecies)P. t. corbetti
Danh pháp ba phần
Panthera tigris corbetti
Mazák, 1968
Bản đồ phân bổ
Bản đồ phân bổ

Hổ Đông Dương hay hổ Corbett (danh pháp khoa học: Panthera tigris corbetti) là một phân loài hổ sống chủ yếu ở bán đảo Đông Dương, được tìm thấy tại Campuchia, Lào, Malaysia, Myanma, Thái Lan, Việt NamTây Nam Trung Quốc. Tên gọi "hổ Corbett" có nguồn gốc từ tên gọi khoa học của nó là Panthera tigris corbetti, và tên gọi này được đặt để ghi công Jim Corbett.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hộp sọ của hổ Đông Dương nhỏ hơn hổ Bengal; bộ lông có màu nền tối hơn với các sọc đơn ngắn hơn và hẹp hơn. Về kích thước cơ thể, chúng cũng nhỏ hơn hổ Bengal và hổ Siberi. Hổ Đông Dương đực trưởng thành dài khoảng 2,55 – 2,85 m (8,37-9,35 ft), cân nặng khoảng 150-195 kg (330-430 lb), và có chiều dài hộp sọ tối đa khoảng 319-365 mm (13-14 inch). Một con hổ đực trưởng thành trung bình dài khoảng 2,74 m (9 ft) và cân nặng khoảng 180 kg (400 lb). Mặc dù vậy, một số cá thể lớn có thể cân nặng trên 250 kg (550 lb).

Hổ Đông Dương cái trưởng thành dài khoảng 2,30-2,55 m (7,55-8,37 ft), cân nặng 100–130 kg (221-287 lb), với hộp sọ dài tối đa 275–311 mm (11-12 inch). Một con hổ cái trưởng thành trung bình dài khoảng 2,44 m (8 ft) và cân nặng khoảng 115 kg (250 lb).

Sau khoảng từ 3 - 4 tháng, Hổ Đông Dương cái sẽ sinh con, một lứa khoảng năm con Hổ Đông Dương con. Hổ Đông Dương mới sinh nặng khoảng 1 kg (2 Ib). Hổ Đông Dương sẽ bú sữa mẹ trong 18 tháng đầu, sau đó chuyển qua ăn thịt. Sau 18 tháng, chúng bắt đầu tự săn mồi.[1]

Môi trường sinh sống[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng hổ ước tính ở Đông Dương[2]
Quốc gia Tối thiểu Tối đa Mức độ
Campuchia 10 30 Khá
Lào 9 23 Khá
Myanmar 85 85 Khá
Thái Lan 200 200 Khá
Việt Nam 10 19 Ít
Tổng cộng 314 357

Hổ Đông Dương có thể sống được trong môi trường rừng, đồng cỏ, núiđồi. Tuy nhiên, chúng thích phần lớn các sinh cảnh rừng như rừng mưa nhiệt đới, rừng thường xanh, rừng rụng lá, rừng lá rộng khô cận nhiệt đới và nhiệt đới.

Hổ Đông Dương được phân bố ở Myanmar, Thái LanLào. Nó đã không còn được ghi nhận tồn tại trong môi trường hoang dã ở Việt Nam kể từ năm 1997. Dữ liệu có sẵn cho thấy không còn nhiều con hổ được sinh sản ở Campuchia, Việt NamTrung Quốc. Vườn quốc gia Pù Mát ở Việt Nam hiện có 17 cá thể hổ Đông Dương.[3]

Hổ Đông Dương ở vườn thú Tierpark Berlin, Đức.

Tại Myanmar, sự hiện diện của hổ đã được xác nhận tại thung lũng Hukawng, khu bảo tồn Động vật Hoang dã Tamanthi và ở hai khu vực nhỏ ở vùng Tanintharyi. Đồi Tenasserim là một khu vực quan trọng, nhưng rừng đang bị tàn phá ở đó. Vào năm 2015, hổ đã được ghi lại bằng bẫy máy ảnh lần đầu tiên trong các khu rừng đồi của bang Kayin.

Hơn một nửa quần thể sống sót trong Khu liên hợp rừng phía Tây ở Thái Lan, đặc biệt là trong khu vực của khu bảo tồn hoang dã Huai Kha Khaeng. Môi trường sống ở đây của chúng bao gồm rừng lá rộng ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đới. Vào tháng 3 năm 2017, một quần thể sinh sản của hổ được phát hiện trong một công viên quốc gia ở khu vực phía đông. Phát hiện này được xem là "kỳ diệu", đặc biệt khi người ta nghĩ rằng hổ Thái Lan chỉ còn sống sót ở khu vực phía tây.

Ở Trung Quốc, nó đã xảy ra trong lịch sử ở tỉnh Vân Nam và huyện Mêdog ở phần phía tây nam của đất nước, nơi những con hổ có lẽ không còn sống sót nữa vào ngày hôm nay. Một cá thể đã bị giết và ăn bởi năm dân làng trong năm 2009.

Kết quả của một nghiên cứu sử dụng 134 mẫu từ hổ trên toàn cầu cho thấy giới hạn phân bố lịch sử Tây Bắc của hổ Đông Dương là vùng ở đồi Chittagong và lưu vực sông Brahmaputra, tiếp giáp với vùng sinh sống lịch sử của hổ Bengal. Hổ được ghi nhận tại khu bảo tồn hổ Pakke và vườn Quốc gia Namdapha ở Arunachal Pradesh.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ Đông Dương ở vườn thú Houston, Hoa Kỳ
Một con hổ chưa trưởng thành

Hổ Đông Dương sống đơn độc ẩn dật trong rừng với địa hình đồi núi, phần lớn trong số đó nằm dọc theo biên giới giữa các quốc gia. Lối vào các khu vực này thường xuyên bị hạn chế cũng như ít nhà sinh vật học được cho phép vào để nghiên cứu thực địa. Vì lý do này, người ta biết tương đối ít về tình trạng, tập tính, hành vi của phân loài hổ này trong tự nhiên.

Hổ Đông Dương chủ yếu săn các loài động vật móng guốc hoang dã cỡ vừa và lớn. Nai, lợn rừng, sơn dương, và các loài lớn thuộc họ Trâu bò như bò banteng và những con bò tót chưa trưởng thành bao gồm phần lớn chế độ ăn của loài hổ này. Tuy nhiên, hầu hết các quần thể động vật lớn ở Đông Nam Á đã bị cạn kiệt nghiêm trọng do săn bắn bất hợp pháp, kết quả là dẫn đến "hội chứng rừng trống" - tức là những khu rừng trồng lại nguyên vẹn như trước, nhưng phần lớn nhiều động vật đã không còn sinh sống ở đó nữa. Một số con mồi thông thường khác của hổ, chẳng hạn như bò xámhươu Schomburgk, đã tuyệt chủng, và nai cà tông, hươu vàng, và trâu nước hoang dã chỉ còn xuất hiện trong một vài quần thể di cư. Trong môi trường sống như vậy, hổ được buộc phải săn những con mồi nhỏ hơn, chẳng hạn như mang, nhím, khỉ Macacalửng lợn. Những con mồi nhỏ như thế chỉ đủ để đáp ứng các yêu cầu năng lượng của một loài động vật ăn thịt lớn như hổ, chứ không đủ để hổ có thể sinh sản tốt. Yếu tố này, cùng với nạn săn bắt hổ cho y học cổ truyền Trung Quốc, là những nguyên nhân chính vào sự suy giảm số lượng của hổ Đông Dương trong suốt phạm vi của nó.

Hổ Đông Dương rất khỏe. Tại Việt Nam, có trường hợp đã được thông báo về một con hổ đực lớn bị giết năm 1984 gần biên giới Việt-Lào. Con hổ này dài tổng cộng 2,8 m (9 ft) và cân nặng khoảng 250 kg (550 lb), đã khủng bố các khu làng trong lãnh thổ của nó trong nhiều năm trước khi bị bắn hạ. Nó đã giết chết trên 10 con trâu trong các làng, cho dù có các cố gắng của dân cư để ngăn chặn điều này. Người ta nói rằng tại một làng đã dựng lên hàng rào cao 3 m (9,8 ft) xung quanh nơi nhốt gia súc, nhưng con hổ này vẫn có thể nhảy qua, giết chết một con , và nhảy ngược trở ra khi cắp theo con vật xấu số nặng khoảng 60 kg (130 lb). Con hổ này cuối cùng đã bị giết khi dân làng đặt bẫy tại xác một con trâu. Nó bị sa bẫy khi định tha con trâu đi và bị dân làng xả súng bắn hạ. Tuy vậy, xác con hổ chỉ được tìm thấy tại một dòng suối cách đó khoảng 2 km (1,2 dặm Anh)[cần dẫn nguồn].

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ cái và con của nó ở Tierpark Berlin

Hổ Đông Dương giao phối quanh năm, nhưng thường xuyên nhất trong tháng 11 đến đầu tháng Tư. Sau một thời gian mang thai 3,5 tháng, khoảng 103 ngày, một con hổ cái có khả năng sinh bảy con. Tuy nhiên, trung bình một con cái sẽ chỉ sinh ba. Đàn hổ con được sinh ra với đôi mắt và tai của chúng còn đóng cho đến khi chúng bắt đầu mở và hoạt động chỉ vài ngày sau khi sinh. Trong năm đầu tiên của cuộc đời, tỷ lệ tử vong là 35%, và 73% những trường hợp tử vong ở hổ mới sinh là toàn bộ lứa đẻ. Tỷ lệ tử vong ở hổ mới sinh thường là kết quả của hỏa hoạn, lũ lụt hoặc bị giết bởi những con hổ trưởng thành. Ngay từ 18 tháng đối với một số cá thể nhưng sau 28 tháng đối với hầu hết trường hợp, đàn hổ con sẽ tách khỏi mẹ và bắt đầu tự đi săn và sống một mình. Con cái của các phân loài đạt đến tuổi trưởng thành lúc 3,5 tuổi trong khi con đực mất đến 5 năm để đạt đến sự trưởng thành về sinh dục.

Tuổi thọ của chúng có thể dao động từ 15 đến 26 năm tùy thuộc vào các yếu tố như điều kiện sống và cho dù trong môi trường hoang dã hay bị giam cầm. Do số lượng suy giảm của chúng, hổ Đông Dương được biết là giao phối cận huyết, giao phối với các thành viên gia đình ngay lập tức. Việc lai cận huyết trong phân loài này đã dẫn đến các gen bị suy yếu, làm giảm số lượng tinh trùng, vô sinh và trong một số trường hợp dị tật như hở hàm ếch, nheo mắt, mắt chéo.

Tấn công con người[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hổ vồ người

Những cuộc xung đột giữa hổ Đông Dương và con người là tương đối ít do lối sống ẩn dật trong rừng của chúng. Tuy nhiên, những hậu quả mà chúng gây ra trong những lần hiếm hoi tấn công người là không hề nhỏ. Thông thường hổ Đông Dương không xem con người là đối tượng để săn mồi, nhưng khi khan hiếm thức ăn trong môi trường tự nhiên, chúng có thể mò đến những bản làng gần đó để bắt gia súc và thậm chí cả người nếu điều kiện cho phép. Điều này khiến dân làng ở nhiều nơi đã có tục thờ hổ để cầu nguyện cho chúng không quấy phá cuộc sống của họ.

Con hổ Đông Dương được biết đến nhiều nhất là hổ có ba móng ở những cánh rừng thuộc Đông Nam Bộ trong thời kì chiến tranh Đông Dương. Đây là một con hổ già, bị sứt móng. Vì sức yếu, không còn nhanh nhẹn nên không còn bắt được những con mồi quen thuộc, nó đành ăn xác tử sĩ trên chiến trường khi ấy, sau quen mùi nên mò về làng bắt người ăn thịt. Chỉ chưa đầy 2 tháng, nó đã cướp đi hơn 50 mạng người. Có thông tin ước tính con hổ này đã ăn thịt trên 100 người. Trang tin điện tử của chính quyền tỉnh Đồng Nai cho rằng nó đã ăn thịt đến 106 người[4]. Sau nhiều lần tìm cách ứng phó, đội diệt hổ cùng với nhiều người dân cuối cùng đã tiêu diệt được con hổ nguy hiểm này.

Hổ Đông Dương cũng được ghi nhận đã tấn công người trong vườn thú. Năm 2009, ở khu du lịch Đại Nam, một con hổ Đông Dương đã bất ngờ nhảy từ chuồng của nó sang chuồng trống bên cạnh và tấn công ba nhân viên đang trồng cây ở đó khiến 1 người chết, 1 người bị thương nặng[5].

Các đe dọa[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ Đông Dương tại Thảo cầm viên Sài Gòn.

Người ta ước tính quần thể hổ Đông Dương có khoảng 1.227-1.785 con, nhưng có lẽ nằm ở nửa dưới của khoảng này. Quần thể lớn nhất có tại Malaysia, là nơi mà việc săn bắn trộm đã bị kiểm soát chặt chẽ, nhưng tất cả các quần thể khác còn lại hiện đang ở tình trạng cực kỳ rủi ro do bị phân mảng (cô lập) môi trường sống cũng như do giao phối đồng huyết. Nó đã được liệt kê vào dạng loài nguy cấp trong Sách Đỏ IUCN kể từ năm 2008, khi số lượng bị suy giảm nghiêm trọng và tiếp cận ngưỡng cực kỳ nguy cấp. Vào năm 2011, số lượng được cho là có 342 cá thể. Quần thể lớn nhất trên bán đảo Đông Dương sống ở Thái Lan ước tính khoảng 189 đến 252 cá thể. Có 85 cá thể ở Myanmar, và chỉ có 20 con hổ Đông Dương vẫn còn ở Việt Nam. Nó được coi là đã tuyệt chủng ở Campuchia.

Mối đe dọa chính đối với hổ Đông Dương là con người. Con người săn hổ hổ Đông Dương để sử dụng các bộ phận cơ thể của chúng cho trang sức và các loại thuốc đông y khác nhau. Loài hổ Đông Dương cũng đang phải đối mặt với tình trạng mất môi trường sống. Con người đang lấn chiếm môi trường sống tự nhiên của chúng, phát triển, phân mảnh và phá hủy đất đai. Tại Đài Loan, một cặp mắt hổ, được cho là để chống lại bệnh động kinh và sốt rét, có thể bán với giá 170 đô la. Ở Seoul, xương hổ, được cho là điều trị loét, thấp khớp và thương hàn, bán với giá 1.450 đô la mỗi pound. Ở Trung Quốc, việc buôn bán và sử dụng các bộ phận của hổ đã bị cấm vào năm 1993, nhưng điều đó đã không ngăn cản những kẻ săn trộm có thể kiếm được 50.000 đô la từ việc bán một bộ phận của một con hổ trên chợ đen. Với sự thịnh vượng ngày càng tăng ở các quốc gia nơi mà các bộ phận của hổ có giá trị rất lớn, nhu cầu cao.

Nằm ở bang Kachin của Myanmar, thung lũng Hukaung là khu bảo tồn hổ lớn nhất thế giới, và là nơi trú ngụ của dân số hổ còn lại của Myanmar. Từ năm 2006, chủ sở hữu giàu có của Tập đoàn Yuzana, Htay Myint, cùng với chính quyền địa phương đã chiếm đoạt hơn 200.000 mẫu Anh (81.000 ha) đất từ ​​hơn 600 hộ gia đình trong thung lũng. Phần lớn cây đã bị chặt hạ và đất đai đã được chuyển đổi thành rừng trồng. Một số khu đất do Tổng công ty Yazana thực hiện đã được coi là hành lang quá cảnh của hổ. Đây là những vùng đất được cho là không bị ảnh hưởng bởi sự phát triển để cho phép những con hổ Đông Dương của vùng đi lại giữa những vùng đất được bảo vệ. Nội chiến tại Myanmar là một cuộc xung đột đang diễn ra kể từ năm 1948. Do cuộc nổi dậy năm 2011 từ Quân đội Độc lập Kachin chiếm một phần Thung lũng Hukaung, các mối đe dọa săn trộm nước ngoài đã không thể xâm nhập một cách an toàn. Không chỉ người nước ngoài bị hạn chế xâm nhập vào khu vực mà cả nhân viên kiểm lâm. Trong số những người bản địa, đặc biệt là những người nghèo khổ, hổ Đông Dương là một nguồn tài nguyên quý giá. Vì sự nguy hiểm của xung đột dân sự, các nhân viên kiểm lâm đã có một thời gian khó khăn để bảo vệ những con hổ khỏi dân bản địa. Vào đầu tháng 1 năm 2013, những tin đồn về việc ngừng bắn giữa chính phủ và các lực lượng nổi dậy bắt đầu lưu hành. Các nhà lãnh đạo của đất nước tin rằng một nghị quyết có thể đạt được vào đầu tháng 10 năm 2013. Không thể xác lập mình là một lực lượng bảo vệ trong khu vực, có lo ngại rằng những kẻ săn trộm nước ngoài sẽ bắt đầu quay trở lại khu vực sớm trước khi nhân viên kiểm lâm quay lại.

Mặc dù là bất hợp pháp, việc buôn bán các bộ phận con hổ trên thị trường chợ đen cung cấp cho nhiều kẻ săn trộm có thu nhập đáng kể. Trong khi nó là một hành vi bất hợp pháp, nhiều kẻ săn trộm vẫn buộc phải làm vì gia cảnh nghèo khó và có những lựa chọn hạn chế để có được một thu nhập đáng kể và ổn định.

Tại Việt Nam, gần như ¾ số hổ bị giết đều là nguồn cung cấp một số vị thuốc cho y học cổ truyền như cao hổ cốt. Từ 2005 đến 2010, đã có 105 vụ vi phạm pháp luật về bảo tồn hổ bị phát hiện, trong đó có một con hổ sống, 17 con hổ đông lạnh, còn lại là da xương và các bộ phận khác.[6]

Số lượng hổ sẽ rất khó gia tăng trừ khi dân cư có thể nhận thấy một con hổ còn sống có giá trị cao hơn một con hổ đã chết. Một số tổ chức và cá nhân đã bắt đầu thực hiện ý tưởng này và hy vọng sử dụng hổ như là con vật có sức hấp dẫn trong du lịch sinh thái. Tại khu vực tỉnh Bình Dương, Việt Nam, tính đến tháng 3 năm 2007 có khoảng 41 con hổ do một số tư nhân, tổ chức nuôi nhốt. Hiện tại, số hổ này vẫn tạm thời được giao cho các cá nhân và tổ chức này nuôi, tuy nhiên, giá trị bảo tồn của chúng không cao do khó xác định nguồn gốc và cũng không thể thả chúng trở lại vào rừng.

Vào thời điểm cuối năm 2010 Trung tâm Giáo dục về Thiên nhiên với trụ sở tại Hà Nội ước tính số hổ rừng tại Việt Nam đã xuống còn ít hơn 30 con[7]. Đến năm 2016, số lượng hổ Việt Nam chỉ còn 5 cá thể[8]. Theo thống kê của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam (ENV), vào cuối năm 2014 có 174 cá thể hổ bị nuôi nhốt trong các trang trại và vườn thú, trung tâm cứu hộ trong cả nước Việt Nam[9].

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt tất cả các hệ sinh thái mà chúng sinh sống, hổ là một loài động vật ăn thịt đầu bảng. Khi một động vật ăn thịt đầu bảng đang bị suy giảm hoặc thậm chí hoàn toàn bị tuyệt chủng khỏi một hệ sinh thái, có những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến lưới thức ăn và phá vỡ quá trình hoạt động tiêu chuẩn của một hệ sinh thái. Những yếu tố này kiểm soát sự tăng trưởng và suy giảm số lượng cũng như tăng tính đa dạng loài.

Trong điều kiện nuôi nhốt[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ Đông Dương ở Khu du lịch Đại Nam.

Trong tất cả các phân loài hổ, loài hổ Đông Dương là loài ít được nuôi nhốt nhất và không phải là một phần của chương trình nhân giống phối hợp. Tính đến năm 2007, 14 cá thể đã được công nhận là hổ Đông Dương dựa trên phân tích di truyền của 105 loài hổ được nuôi nhốt ở 14 quốc gia.

Vườn thúkhu du lịch Đại Nam thuộc tỉnh Bình Dương, Việt Nam là vườn thú có số lượng hổ Đông Dương rất đông do “mát tay” cho hổ đẻ. Lúc đầu vườn thú chỉ có chín con hổ (5 đực, bốn cái), không bao lâu, chúng nhân giống ra 15 con thế hệ F1, từ thế hệ F1 chúng tiếp tục sinh ra bốn con thế hệ F2. Hổ ở Đại Nam sinh sản rất nhanh, đến nỗi vườn thú phải hãm bớt[10].

Chùa Hổ hay còn gọi là chùa Wat Pha Luang Ta Bua là một ngôi chùa Phật giáo tọa lạc tại tỉnh Kanchanaburi, Thái Lan. Đây là ngôi chùa nổi tiếng vì nuôi nhiều hổ (đều thuộc phân loài hổ Đông Dương) với hình thức các nhà sư nuôi chúng, đây cũng là một địa điểm du lịch hấp dẫn. Chùa Hổ là một điểm đến hấp dẫn du khách tham quan, chụp ảnh cảnh sinh hoạt của hổ và cho hổ con uống sữa.

Cộng tác viên Jordan Schaul của Hội Địa lý Quốc gia (Hoa Kỳ) đã viết:

Trước khi chỉ định các phân loài Malay có khoảng 60 con hổ Đông Dương ở các vườn thú châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Hôm nay có ít hơn một số ít. Các vườn thú cam kết bảo tồn tính toàn vẹn di truyền của các phân loài tồn tại trong tự nhiên.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]