Tê tê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Tê tê[1]
Thời điểm hóa thạch: Đầu thế Eocen - Gần đây
Manidae.jpg
Các loài tê tê còn sinh tồn
Tình trạng bảo tồn
CITES Phụ lục I (CITES)[2]
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Pholidota
Weber, 1904
Họ (familia)Manidae
Gray, 1821
Khu vực phân bố các loài tê tê      Manis crassicaudata      Manis pentadactyla      Manis javanica      Manis culionensis      Phataginus tricuspis      Phataginus tetradactyla      Smutsia gigantea      Smutsia temminckii
Khu vực phân bố các loài tê tê

     Manis crassicaudata      Manis pentadactyla      Manis javanica      Manis culionensis      Phataginus tricuspis      Phataginus tetradactyla      Smutsia gigantea

     Smutsia temminckii
Các chi
Một con tê tê trong tư thế phòng thủ, Bảo tàng Horniman, London.

Tê tê hay còn gọi là trút hoặc xuyên sơn, (tiếng Anh: Pangolin) là các loài động vật có vú thuộc Bộ Tê tê (Pholidota) (từ tiếng Hy Lạp cổ đại φολῐ́ς, "vảy sừng"). Chỉ còn một họ còn sinh tồn, Họ Manidae, gồm ba chi: Manis, PhataginusSmutsia. Chi Manis bao gồm 4 loài được tìm thấy ở châu Á, trong khi chi PhataginusSmutsia mỗi chi chỉ gồm 2 loài sống ở Châu Phi Hạ Sahara. Những loài này có kích thước từ 30 đến 100 cm. Một số loài tê tê đã bị tuyệt chủng cũng được biết đến.

Thân tê tê có lớp vảy keratin bảo vệ lớn và cứng bao phủ da của chúng; chúng là động vật có vú duy nhất được biết đến với đặc điểm này. Chúng sống trong những hốc cây rỗng hoặc hang, tùy theo loài ở các miền nhiệt đới châu Áchâu Phi. Tê tê là loài sống về đêm, và chế độ ăn uống của chúng bao gồm chủ yếu là kiến ​​và mối chúng bắt được nhờ cái lưỡi dài của chúng. Vào ban ngày, chúng cuộn tròn thành quả bóng để ngủ. Chúng thường là động vật sống đơn độc, chỉ gặp nhau để giao phối và sinh ra một lứa từ một đến ba con mà chúng nuôi trong khoảng hai năm.

Tê tê bị đe dọa bởi nạn săn trộm (để lấy thịt và vảy của chúng, được sử dụng trong y học cổ truyền Trung Quốc), và nạn phá rừng nặng nề đối với môi trường sống tự nhiên của chúng. Chúng là loài động vật có vú bị buôn bán nhiều nhất trên thế giới. Kể từ tháng 1 năm 2020, trong số 8 loài tê tê, 3 loài (Manis culionensis, M. pentadactylaM. javanica) được đánh giá là có nguy cơ bị tuyệt chủng; 3 loài (Phataginus tricuspis, Manis crassicaudataSmutsia gigantea) được đánh giá là loài nguy cấp; 2 loài (Phataginus tetradactylaSmutsia temminckii) được đánh giá là dễ bị tổn thương trong sách đỏ IUCN của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn thân tê tê có lớp vảy cứng bao bọc, chỉ chừa phần phía bụng. Mép vảy sắc và nhọn để giúp việc phòng thủ. Vảy cấu tạo bằng chất keratin giống như móng vuốt, sừng, và lông các động vật có vú khác. Khi mới sinh ra, vảy tê tê mềm nhưng rồi cứng dần với thời gian. Chúng còn tự vệ bằng cách xịt dung dịch axit hôi từ tuyến gần hậu môn.

Tê tê có móng dài và cứng; móng hai chân trước được dùng để phá tổ côn trùng tìm thức ăn. Vì móng dài nên chúng không đi bằng cách đạp chân xuống đất mà ngược lại, tê tê di chuyển bằng cách co hai chân trước lại và giẫm lên mu bàn chân. Miệng chúng không có răng; thức ăn chủ yếu là kiếnmối. Chúng dùng lưỡi dài (đến 40 cm) với nước dãi rất dính để bắt mồi. Cuống lưỡi nằm sâu trong lồng bụng.

Phần đuôi tê tê có khả năng cầm nắm, để giúp vin vào cành cây khi leo trèo.

Các loài tê tê đo được từ 30 đến 100 cm. Con cái thường nhỏ hơn con đực. Chúng làm ổ trong những hốc cây rỗng hay đào hang sâu dưới đất.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tê tê mang thai khoảng 120-150 ngày, đẻ lứa từ một (tê tê châu Phi) đến ba con (tê tê châu Á). Thường đẻ một con, ít khi hai. Tê tê con cân từ 80-450 g. Chúng bám vào đuôi mẹ, khi gặp nguy hiểm mẹ dấu con dưới bụng và cuộn tròn người lại, nhưng cũng có loài tê tê ẩn trong hang đến 2-4 tuần thì mới ra ngoài. Chúng thôi sữa ở khoảng ba tháng và đến hai tuổi thì trưởng thành, có thể sinh sản được.[3]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Mối đe dọa và được bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài tê tê ở cả châu Phi lẫn châu Á đều bị con người săn bắn lấy thịt. Tại Trung Quốc thịt tê tê được coi là cao lương bổ ích trong Đông y, giúp điều hòa lưu huyết và tăng lượng sữa cho sản phụ nên bán rất được giá. Chúng cũng được dùng như một chất khử trùng và có thể được sử dụng cho bệnh sốt và bệnh ngoài da, hoặc dùng bên ngoài chà lên da bị trầy xước của bệnh nhân, hoặc nghiền nát và tiêu hóa. Các phần của cơ thể chúng, đặc biệt là các loài Đông Nam Á bị nhập khẩu một mức độ lớn trong thị trường ngầm đến Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Mối đe dọa này cùng với nạn phá rừng, phá hoại môi trường sống của chúng, đã làm giảm số tê tê, nhất là loài Manis gigantea. Hiện nay, tất cả các loài tê tê đều được liệt kê trong danh sách cấm theo Công ước CITES. Từ năm 2000 là "không hạn định số lượng" (cấm tuyệt đối), có nghĩa là cấm bất kỳ thương mại quốc tế về tê tê hoặc các bộ phận cơ thể của chúng.[4] Tháng 11 năm 2010, tê tê đã được thêm vào danh sách các động vật có vú khác biệt về mặt di truyền và có nguy cơ tuyệt chủng của Hiệp hội Động vật học London (Zoological Society of London's).[5] IUCN cũng đã liệt kê một số loài tê tê, như tê tê Java (Manis javanica), tê tê vàng (Manis pentadactyla) vào danh sách nguy cấp.[6]

Mặc dù tê tê được bảo vệ bởi một lệnh cấm quốc tế về thương mại (được quy định là động vật hoang dã quý hiếm, có nguy cơ tiệt chủng, bị hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại), số lượng tê tê đã bị buôn bán bất hợp pháp do niềm tin ở châu Á có quy mô phổ biến là thịt tê tê có thể kích thích tiết sữa hay chữa bệnh ung thư hoặc bệnh hen suyễn, chống dị ứng, thậm chí còn đuổi được cả tà ma.[7] Trong thập kỷ qua đã có nhiều vụ buôn bán bất hợp pháp tê tê, vảy và thịt tê tê ở châu Á.[8][9] Trong một sự cố như vậy vào năm 2013, 10.000 kg thịt tê tê đã bị bắt giữ từ một tàu Trung Quốc bị mắc cạn ở Philippines,[10][11] hay là cuối tháng 4 năm 2013, Hải quan Pháp đã chặn 50 kg vẩy tê tê đang trên đường chuyển về Việt Nam.[12] Một thị trường chợ đen vẫn tồn tại và liên tục buôn lậu với số lượng lớn được phát hiện,[13] như vụ phát hiện khoảng 23 tấn trong tháng Hai và tháng 3 năm 2008 tại Việt Nam.[14] Ngày 27-4-2018, gần 3,8 tấn vảy tê tê tới từ Congo được cất giấu tinh vi trong hai container gỗ cập cảng Cát Lái ở Thành phố Hồ Chí Minh bị lực lượng chức năng phát hiện.[15]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Schlitter, D. A. (2005). Wilson, D. E.; Reeder, D. M, biên tập. Mammal Species of the World (ấn bản 3). Johns Hopkins University Press. tr. 530–531. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên CITES
  3. ^ Từ điển sinh học phổ thông,Lê Đình Lương, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001
  4. ^ Schuppentiere bei CITES, PDF-Download
  5. ^ 'Asian unicorn' and scaly anteater make endangered list”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011. 
  6. ^ Gõ chữ " manidae " vào ô tìm kiếm tại IUCN
  7. ^ Bettina Wassener (ngày 12 tháng 3 năm 2013). “No Species Is Safe From Burgeoning Wildlife Trade”. The New York Times. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2013. 
  8. ^ Watts, Johnathan (tháng 5 2007). 'Noah's Ark' of 5,000 rare animals found floating off the coast of China”. The Guardian. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  9. ^ “Asia in Pictures (28May2012)”. The Wall Street Journal. Tháng 5 2012. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2012.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  10. ^ “Chinese vessel on Philippine coral reef caught with illegal pangolin meat”. Associated Press. Ngày 15 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  11. ^ “Boat Filled With 22,000 Pounds Of Pangolin Hits Endangered Coral Reef”. Care2. Ngày 16 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013. 
  12. ^ Hải quan Pháp chặn giữ được hàng chục ký vẩy tê tê buôn lậu qua Việt Nam, RFI, ngày 1 tháng 5 năm 2013
  13. ^ Armoured but endangered – Artikel des WWF vom 16. tháng 9 năm 2004
  14. ^ 23 tonnes of pangolins seized in a week – traffic.org
  15. ^ Gần 3,8 tấn vảy tê tê nhập lậu từ Congo vào Việt Nam, tuoitre.vn, 27-4-2018

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]