Khỉ Tân Thế giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Khỉ Tân Thế giới
Thời điểm hóa thạch: Oligocene-Holocene, 31–0 Ma
Pygmy marmoset (Cebuella pygmaea) on branch.jpg
Một con khỉ Marmoset lùn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primate
Phân bộ (subordo) Haplorhini
Phân thứ bộ (infraordo) Simiiformes
Tiểu bộ (parvordo) Platyrrhini
E. Geoffroy, 1812[1]
Liên họ (superfamilia) Ceboidea
Families

Khỉ Tân thế giới hay khỉ thế giới mới hay Khỉ châu Mỹ hay khỉ Nam Mỹ là thuật ngữ chỉ về 05 họ của các loài linh trưởng được tìm thấy ở Trung và Nam Mỹ và các phần của Mexico gồm các họ callitrichidae, Cebidae, Aotidae, Pitheciidae, và atelidae. Năm họ được xếp với nhau như các siêu bộ Platyrrhini và các siêu họ Ceboidea, mà chủ yếu là đồng nghĩa kể từ Ceboidea là chỉ về siêu họ platyrrhine. Platyrhini có nghĩa phẳng mũi, mũi của chúng là phẳng hơn so với những nhóm khác, với một bên lỗ mũi của mặt. Những con khỉ trong họ Atelidae, như con khỉ nhện, là loài linh trưởng duy nhất có đuôi có khả năng cầm nắm. Thuật ngữ này dùng để phân biệt với khỉ Cựu thế giới hay khỉ cổ thế giới, khỉ thường thế giới cũ bao gồm các con khỉ phân bố ở châu Á và châu Phi.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Khỉ có thể được chia thành hai nhóm, khỉ cựu thế giới sống ở châu Phi và châu Á, và khỉ tân thế giới sống ở Nam Mỹ. Một con khỉ đầu chó là một con khỉ cựu thế giới, trong khi một giống khỉ nhỏ con là một con khỉ tân thế giới. Cả hai nhóm có rất nhiều điểm giống nhau. Tuy nhiên, số lượng của 2 nhóm là không tương đồng. Có đến 96% loài khỉ cổ thế giới sinh sống trong các cánh rừng và khu vực đồng cỏ ở châu Phi và châu Á. Có 65% loài khỉ tân thế giới sống ở Trung và Nam Mỹ, phần lớn phân bố trong những cánh rừng ẩm ướt.

Có 81 loài khỉ tân thế giới ở lưu vực sông Amazon vào năm 2008 nhưng những loài mới vẫn tiếp tục được phát hiện. Khỉ Capuchin được cho là một trong những loài khỉ tân thế giới thông minh nhất. Chúng có khả năng sử dụng các công cụ, học các kỹ năng mới và có dấu hiệu khác nhau của sự tự nhận thức. Khỉ tân thế giới không có ngón tay cái, bao gồm cả con khỉ nhện, khỉ sóc. Khỉ ở tân thế giới có 36 răng, trong khi những con khỉ cựu thế giới có 32 răng. Đuôi của loài khỉ tân thế giới thường dài hơn và khéo léo hơn các loài khỉ Cựu thế giới. Mặt khác, mũi và các lỗ mũi của loài khỉ Cựu thế giới thường nhỏ hơn và nằm sát vào nhau hơn loài khỉ tân thế giới và thông thường, các loài khỉ Cựu thế giới sẽ có cơ thể to lớn hơn khỉ tân thế giới.

Các loài[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Schneider, H. (2000). “The current status of the New World Monkey phylogeny”. Anais da Academia Brasileira de Ciências 72 (2): 165–172. doi:10.1590/S0001-37652000000200005. 
  • Opazo, J. C. và đồng nghiệp (2006). “Phylogenetic relationships and divergence times among New World monkeys (Platyrrhini, Primates)”. Molecular Phylogenetics and Evolution 40 (1): 274–280. PMID 16698289. doi:10.1016/j.ympev.2005.11.015. 
  1. ^ Groves, Colin (16 tháng 11 năm 2005). Wilson D. E. và Reeder D. M. (chủ biên), biên tập. Mammal Species of the World . Nhà xuất bản Đại học Johns Hopkins. tr. 128–152. ISBN 0-801-88221-4.