Bộ Đa man

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đa man
Thời điểm hóa thạch: Eocen-gần đây, 55.8–0 triệu năm trước đây
Beecroft'sTreeHyrax.JPG
Đa man đá đốm vàng (Heterohyrax brucei)
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Hyracoidea
Các họ

Bộ Đa man (Danh pháp khoa học: Hyracoidea, từ nguyên Hy Lạp ὕραξ/hurax, "Chuột chù") hay còn gọi là thỏ đá hay chuột đá (ngân thử) hay hyrax trong tiếng Anh, là một bộ động vật có vú ăn cỏ có lông dày, sống gặm nhấm và có đuôi ngắn. Thông thường, chúng dài từ 30 cm (12 in) tới 70 cm (28 in), nặng khoảng 2 kg (4,4 lb) đến 5 kg (11 lb). Chúng thường bị nhầm lẫn với loài pika (Bộ thỏ) và các loài gặm nhấm, nhưng có họ hàng gần gũi với voilợn biển hơn. Bốn loài còn sinh tồn được công nhận là Procavia capensis, Heterohyrax brucei, Dendrohyrax dorsalis, Dendrohyrax arboreus. Chúng phân bố hạn chế ở châu Phi và Trung Đông.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Đa man sống hay còn gọi là thỏ đá thường làm hang ở những vùng núi đá, trông giống như động vật gặm nhấm, song lại có họ hàng gần với voi hơn. Chúng thích làm hang gần vùng dân cư sinh sống là do các đống đổ nát gạch, đá do con người tạo ra vì Thỏ đá rất thích nằm sưởi dưới ánh mặt trời ở gần cửa hang. Những đống đổ nát này tạo điều kiện lý tưởng cho chúng. Hiện nay, chúng không còn làm hang ở vùng núi đá mà đang di chuyển vào các khu vực dân cư Ga-li-lê, phá hủy mùa màng, ăn bất kỳ thừ gì chúng tìm thấy và còn truyền cả bệnh về da cho con người. Thỏ đá đang làm gia tăng lo ngại cho người dân. Tuy nhiên không cần phải tiêu diệt thỏ đá, chỉ cần lấp các hang, kẽ hở trong đống đá, gạch đổ nát thì chúng sẽ tự động quay trở về hang đá.[1]

Các loài còn sinh tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Cây phát sinh loài[sửa | sửa mã nguồn]

Phát sinh chủng loài đa man
Hyracoidea

Seggeurius

Microhyrax

Saghatheriinae

Bunohyrax

Pachyhyrax

Thyrohyrax

Selenohyrax

Saghatherium

Titanohyrax

Antilohyrax

Megalohyrax

Geniohyiinae

Geniohyus

Proboscidea

Perissodactyla[a]

Phenacodontidae

Phát sinh chủng loài đa man đã biết từ Eocen sớm tới Oligocen giữa. Các lòi đa man còn sinh tồn (trong họ Procaviidae) có thể đã tiến hóa từ các thành viên nhỏ mà tại đây coi là thuộc về Saghatheriinae.[2]
  1. ^ Mối quan hệ của đa man với Perissodactyla là mâu thuẫn, và không được các dữ liệu phân tử hỗ trợ.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tại sao thỏ đá thích sống gần người?
  2. ^ Gheerbrant, E; D. Donming & P. Tassy (2005). “Paenungulata (Sirenia, Proboscidea, Hyracoidea, and Relatives)”. Trong Kenneth D. Rose, J. David Archibald (eds.). The Rise of Placental Mammals: Origins and Relationships of the Major Extant Clades. Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 84–105. ISBN 080188022X.