Lợn biển

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Họ Lợn biển
Thời điểm hóa thạch: Đầu thế Pleistocen - Gần đây
Trichechus Diversity.jpg
Chiều kim đồng hồ từ góc trái trên: Lợn biển Tây Ấn Độ, Lợn biển AmazonLợn biển Tây Phi
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Mammalia
Bộ (ordo)Sirenia
Họ (familia)Trichechidae
Gill, 1872[1]
Chi (genus)Trichechus
Linnaeus, 1758
Khu vực phân bố các loài lợn biển: lợn biển Tây Ấn Độ (xanh lục), lợn biển Amazon (đỏ) và lợn biển Tây Phi (cam)
Khu vực phân bố các loài lợn biển: lợn biển Tây Ấn Độ (xanh lục), lợn biển Amazon (đỏ) và lợn biển Tây Phi (cam)
Các loài
Danh pháp đồng nghĩa
  • Manatida (Haeckel, 1866)
  • Manatidae (Gray, 1821)
  • Manatina (C. L. Bonaparte, 1837)
  • Manatoidea (Gill, 1872)
  • Trichechoidea (Giebel, 1847)
  • Trichecida (Haeckel, 1866)

Lợn biển (họ Lợn biển Trichechidae, chi Trichechus) (tiếng Anh: Manatee hay Sea Cow) là các loài động vật có vú chủ yếu ăn thực vật to lớn, và hoàn toàn sống dưới nước. Có 3 loài còn sinh tồn được công nhận, đại diện cho ba trong số bốn loài trong Bộ Bò biển (Sirenia): lợn biển Amazon (Trichechus inunguis), lợn biển Tây Ấn Độ (Trichechus manatus), và lợn biển Tây Phi (Trichechus senegalensis). Chúng có chiều dài lên đến 4 m, nặng tới 590 kg,[2] và có chân giống như mái chèo.

Từ nguyên tên gọi của chúng không rõ ràng, nhiều lần được kết nối với từ tiếng Latinh manus (nghĩa là 'bàn tay') và với một từ - đôi khi được là manati - được sử dụng bởi người Taíno, một dân tộc người tiền ColumbusCaribbean, có nghĩa là "vú".[3] Cái tên sea cow trong tiếng Anh xuất phát từ thực tế rằng chúng là loài ăn thực vật chậm chạp, sống yên bình (tương tự như loài trên đất liền.) Chúng thường gặm các thực vật thủy sinh ở những vùng biển nhiệt đới. Họ này được Gill miêu tả năm 1872.[1]

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài lợn biển là ba trong số bốn loài còn sinh tồn trong Bộ Sirenia. Loài thứ tư là cá cúi của Đông bán cầu. Bộ Sirenia được cho là đã tiến hóa từ động vật có vú bốn chân trên đất liền hơn 60 triệu năm trước, với họ hàng gần nhất là các loài trong bộ Proboscidea (voi) và bộ Hyracoidea (đa man).[4]

Màu lông của loài lợn biển Amazon là nâu xám, và chúng có làn da nhăn nheo, thường có lông thô hoặc "râu ria". Hình ảnh về chúng rất hiếm. Mặc dù có rất ít thông tin về loài này, các nhà khoa học nghĩ rằng chúng tương tự như lợn biển Tây Ấn Độ.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). “Trichechidae”. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ “West Indian Manatee”. 
  3. ^ “What's in a name?”. 
  4. ^ Domning, D.P., 1994, "Paleontology and evolution of sirenians: Status of knowledge and research needs", in Proceedings of the 1st International Manatee and Dugong Research Conference, Gainesville, Florida, 1–5

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]