Trần Thượng Xuyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chánh điện thờ tướng Trần Thượng Xuyên (Đình Tân Lân, Biên Hòa)

Trần Thượng Xuyên (chữ Hán: 陳上川, 1626-1720), tự là Thắng Tài (勝才), hiệu Nghĩa Lược (義略), quê ở làng Ngũ Giáp Điền Thủ, huyện Ngô Xuyên, phủ Cao Châu (Giao Châu), tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc)[1], nguyên là tổng binh ba châu Cao - Lôi - Liêm dưới triều Minh. Ông được coi là người đầu tiên có công khai khẩn với quy mô lớn vùng đất Biên Hòa, là người được chúa Nguyễn ban danh hiệu cao quý Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt[2], được vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc phong "Thượng đẳng thần".

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thượng Xuyên quê tại thôn Điền Đầu, trấn Nam Tam, huyện Ngô Xuyên, phủ Cao Châu (nay là thôn Điền Đầu, trấn Nam Tam, khu Pha Đầu, thị Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông), xuất thân gia đình thương gia giàu có. Trần Thượng Xuyên vốn là dòng dõi của tướng Trần Văn Long (陳文龍) nhà Nam Tống, người có công chống quân Nguyên.

Năm 1642, gia đình Trần Thượng Xuyên đến ở phủ Triệu Khánh. Năm 1644, quân Thanh đánh chiếm hầu hết Trung Quốc, đến tháng 10 năm 1646, Quế Vương Chu Do Lang xưng Giám Quốc, đóng đô ở Triệu Khánh, tháng 11 lên ngôi, thành lập chính quyền Vĩnh Lịch nhà Nam Minh. Trần Thượng Xuyên liền khỏi binh hưởng ứng Vĩnh Lịch đế. Đến năm 1662 tháng 4, Ngô Tam Quế giết chết Vĩnh Lịch Đế, Trần Thượng Xuyên vẫn tiếp tục kháng Thanh, hoạt động tại bờ biển Quảng Đông, Quảng Tây. Thủ lĩnh kháng Thanh là Trịnh Thành Công sau đó phong cho Thượng Xuyên giữ chức tổng binh ba châu Cao-Lôi-Liêm (高廉雷).

Năm 1673, nổ ra loạn Tam Phiên, Thượng Xuyên hưởng ứng Ngô Tam Quế, đánh chiếm Khâm Châu. Năm 1679, quân Thanh dẹp loạn Tam Phiên, Thượng Xuyên cùng gia nhân bỏ đi tị nạn.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thần phục chúa Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Nam Thực lục (Tiền biên) chép:

Kỷ Mùi (1679), mùa xuân tháng Giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến; Cao Lôi Liêm, tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (cửa Tư Hiền) và Đà Nẵng, tự trần là bồ thần (bề tôi mất nước, trốn ra nước ngoài) nhà Minh, không chịu làm tôi tớ nhà Thanh, nên đến xin để làm tôi tớ.
Bấy giờ bàn bạc rằng phong tục, tiếng nói của họ đều khác nhau, khó bề sai đúng, nhưng họ bị thế cùng bức bách đến đây thì không nỡ cự tuyệt. Nay đất Đông phố nước Chân Lạp phì nhiêu nghìn dặm, triều đình chưa rỗi mà kinh lý, chi bằng lấy sức của họ đến khai khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điều. Chúa (Nguyễn Phúc Tần) theo lời bàn, bèn sai đặt yến ủy lạo khen thưởng, trao cho quan chức đến ở đất Đông Phố.

Trước đó, năm 1673, ở Chân Lạp đã nổ ra cuộc tranh chấp quyền lực giữa một bên là hai anh em Ang Chea (Nặc Ông Đài)-Ang Sur (Nặc Thu) và bên kia là hai bác cháu Ang Tan (Nặc Tân)-Ang Nan (Nặc Nộn). Phe Ang Tan-Ang Nan cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Tần. Năm 1674, Ang Tan chết, ba năm sau, Ang Chea bị giết. Chúa Nguyễn giải hòa hai phe bằng cách phong cho Ang Sur làm chính vương (đóng đô ở Oudong) và Ang Nan làm phó vương (đóng đô ở Prei Nokor, nay là Sài Gòn...).

Vào thời điểm nhóm người Hoa xin tị nạn, biên giới Việt chỉ mới đến bờ trái sông Phan Rang[3], nên chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho người đưa thư đến Ang Nan (vị phó vương đang được chúa Nguyễn bảo vệ) yêu cầu chia cấp đất cho họ vào làm ăn sinh sống quanh vùng đất Prei Nokor (Sài Gòn) và Ang Nan đã đồng ý. Kể từ đó, nhóm Trần Thượng Xuyên đến ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Hòa) và nhóm Dương Ngạn Địch đến ở vùng Peam Mesar (Mỹ Tho).

Cũng theo sách Đại Nam Thực lục (Tiền biên), thì:

Binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Soài Rạp đến đóng ở Mỹ Tho, binh thuyền của Thượng Xuyên và An Bình thì vào cửa Cần Giờ, đến đóng ở Bàn Lân (Biên Hòa). Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây dương, Nhật Bản, Chà Và[4] đi lại tấp nập[5].

Mở mang cù lao Phố[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cù lao Phố

Ban đầu nhóm Trần Thượng Xuyên đến Bàn Lân[6] (ngày nay thuộc Biên Hòa) lập nghiệp. Khi đó, vùng đất này còn là rừng rú. Vốn là người ở vùng Đông Nam Trung Quốc, thạo nghề mua bán và công nghệ, họ đã phát hiện ra Cù lao Phố, một bãi sa bồi hoang sơ nằm giữa sông Hương Phước (một đoạn của sông Đồng Nai), trải dài trên 7 dặm, bề ngang bằng 2/3 bề dài. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy, có thể ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thổ sản, và phía Nam có thể ra biển Cần Giờ hay sang tận Cao Miên.

Cho nên một phần lớn nhóm người Hoa, đã chuyển từ Bàn Lân đến Cù lao Phố. Và cùng với nhóm lưu dân người Việt đến trước, Trần Thượng Xuyên và lực lượng của mình tiến hành khai khẩn quy mô lớn. Với biệt tài tổ chức, chẳng bao lâu ông đã biến vùng đất hoang sơ trở thành thương cảng, trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế của cả vùng Gia Định, tức Nam bộ ngày nay.

Từ sự phát đạt của thương nghiệp đã lôi kéo những ngành nghề thủ công khác đến như: dệt chiếu, tơ lụa, gốm, đúc đồng, nấu đường, làm bột, đồ gỗ gia dụng, chạm khắc gỗ, đóng thuyền, làm pháo v.v...

Nhà văn Sơn Nam viết:

Vùng cù lao Phố, nòng cốt của Biên Hòa. Đây là vị trí xứng danh ải địa đầu, với đường bộ lên Cao Miên và đường thủy ăn xuống Sài Gòn. Nhóm dân Trung Hoa theo chân Trần Thượng Xuyên gây cơ sở lớn ở Cù lao Phố, chọn vị trí thuận lợi, sát mé sông. Năm măm sau khi định cư, chùa Quan đế dựng lên[7].

Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả:

Trần Thượng Xuyên chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ: nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội...[8].

Cảnh mua bán rộn rịp cũng được Trịnh Hoài Đức ghi chép lại:

Các thuyền ngoại quốc tới nơi này (Cù lao Phố) bỏ neo, mướn nhà ở, rồi kê khai các số hàng trong chuyến ấy cho các hiệu buôn trên đất liền biết. Các hiệu buôn này định giá hàng, tốt lẫn xấu, rồi bao mua tất cả, không để một món hàng nào ứ đọng. Đến ngày trở buồm về, gọi là "hồi đường", chủ thuyền cần mua món hàng gì, cũng phải làm sẵn hóa đơn đặt hàng trước nhờ mua dùm. Như thế, khách chủ đều được tiện lợi và sổ sách phân minh. Khách chỉ việc đàn hát vui chơi, đã có nước ngọt đầy đủ, lại khỏi lo ván thuyền bị hà ăn, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi...[9].

Tuy nhiên, sự thịnh vượng của cù lao Phố chỉ kéo dài được 97 năm (1679-1776), bởi đã xảy ra hai sự kiện lớn:

  • Năm 1747, một nhóm khách thương người Phúc Kiến qua lại buôn bán, thấy Cù lao Phố rất giàu có nên dậy lòng tham, muốn chiếm lấy để làm chỗ dung thân lâu dài. Cuộc bạo loạn do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu bị quan quân chúa Nguyễn dẹp tan nhanh chóng, nhưng Cù lao Phố cũng đã chịu nhiều thiệt hại.
  • Năm 1776, quân Tây Sơn đã đến đàn áp những người Hoa ở Cù lao Phố vì họ đã ủng hộ Nguyễn Phúc Ánh. Trịnh Hoài Đức mô tả: Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định thành thông chí). Bởi vậy, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn (nay là Quận 5 và Quận 6, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh)[10], sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay...

Kể từ đó, Cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ LớnMỹ Tho.

Giữ an bờ cõi[sửa | sửa mã nguồn]

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Năm Mậu Thìn (1688), phó tướng Hoàng Tiến giết chủ tướng là Dương Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ Tho, dời đồn sang Nan Khê (nay là sông Vàm Nao, thuộc tỉnh An Giang), đắp lũy, đúc đại bác, đóng chiến thuyền, thả quân đi cướp bóc. Vua chính nước Chân LạpNặc Thu oán giận, bỏ việc triều cống và đắp ba lũy Bích Đôi, Cầu Nam và Nam Vang, rồi chằng xích sắt ngăn cửa sông, làm kế cố thủ...[5].

Vua thứ nhì Chân Lạp là Nặc Nộn (đang đóng ở Sài Gòn) báo gấp lên chúa Nguyễn. Chúa Ngãi Nguyễn Phước Trăn nổi giận, bèn cử tướng Mai Vạn Long ở Dinh Thái Khương giả hiệp quân cùng Tiến đi đánh dẹp Nặc Thu, nhưng kỳ thực cũng để hạ Hoàng Tiến.

Sách Đại Nam thực lục chép:

Tháng giêng năm Kỷ Tỵ (1689), Mai Vạn Long kéo quân đến cửa biển Mỹ Tho, đóng ở Rạch Gầm (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), sai người đến Nan Khê triệu Hoàng Tiến đem quân sở bộ đến. Vạn Long phải dùng mẹo đánh lừa Tiến đến hội. Quả nhiên Tiến cưỡi thuyền ra sông đến hội. Phục binh vùng dậy, bốn mặt đánh vào, Tiến bỏ thuyền chạy, nhằm lẩn về phía cửa biển Soài Rạp. Vạn Long vào lũy, bắt được vợ con Tiến đều chém cả [11], chiêu tập dư chúng quân Long Môn, sai bộ tướng là Trần Thượng Xuyên quản lãnh để làm Tiền phong. Thừa thắng, Vạn Long, Trần Thượng Xuyên tiến đánh, đốt xích sắt ngang sông, liên tiếp lấy được ba luỹ Bích Đôi, Cầu Nam, Nam Vang, bắt Nặc Thu phải hàng phục…..[5].

Năm 1699 và năm 1700, Trần Thượng Xuyên lại phải cầm quân đến nơi biên giới:

Tháng 7 năm 1699, Nặc Thu lại đắp lũy ở Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Nam. Trần Thượng Xuyên lúc bấy giờ đang đóng quân ở Doanh Châu (Vĩnh Long), cấp báo lên triều đình. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh đi vào Nam hiệp quân, đánh dẹp.
Tháng 3 năm 1700, Trần Thượng Xuyên đích thân ra trận, giao chiến với quân Chân Lạp, rồi tiến đánh lũy Bích Đôi và Nam Vang. Quân Chân Lạp tan vỡ... Sau trận tiến công này, vùng đất Biên Trấn (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định), Định Tường, Long Hồ (Vĩnh Long), An Giang đã được sáp nhập vào Đại Việt.[12].

Và lần thứ ba... Sách Việt Nam sử lược chép:

Năm Giáp Ngọ (1714), quân của Nặc Ông Thâm đến lấy thành La Bích và vây đánh Nặc Ông Yêm nguy cấp lắm. Ông Yêm sai người sang Gia Định cầu cứu. Quan đô đốc Phiên Trấn (Gia Định) là Trần Thượng Xuyên và quan phó tướng Trấn Biên (Biên Hòa) là Nguyễn Cửu Phú phát binh sang đánh, vây Nặc Ông Thu và Nặc Ông Thâm ở trong thành La Bích. Nặc Ông Thu và Nặc Ông Thâm sợ hãi, bỏ thành chạy sang Tiêm la (Xiêm). Bọn ông Trần Thượng Xuyên lập Nặc Ông Yêm lên làm vua Chân Lạp...…[13].

Mất[sửa | sửa mã nguồn]

Suốt 15 năm, Trần Thượng Xuyên vừa hỗ trợ các tướng chúa Nguyễn ổn định tình hình quân sự, chính trị ở Gia ĐịnhChân Lạp, vừa lo mở mang buôn bán ở Cù lao Phố. Vào ngày 23 tháng 10 âm lịch năm 1720, ông mất và được an táng ở làng Mỹ Lộc, xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Trải qua mấy thế kỷ, mộ Trần Thượng Xuyên cùng các ngôi mộ của các gia tướng đều đã rất hoang tàn và rêu phong. Sau, nhờ ngành chức năng và một số các nhà nghiên cứu đến khảo sát mới xác định được đây là mộ của Trần Thượng Xuyên [14].

Tưởng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

Bia ghi công Trần Thượng Xuyên trước đình Tân Lân.

Trần Thượng Xuyên được lịch sử xác định là người có công lớn trong công cuộc khai phá và xây dựng vùng đất Đồng Nai-Gia Định. Công đức to lớn của ông được nhân dân ghi tạc, tôn thờ và xem ông như vị thần đã khai sáng vùng đất này.

Mặt khác, Trần Thượng Xuyên còn là một dũng tướng thao lược của chúa Nguyễn. Ông đã nhiều lần cầm binh đánh dẹp Cao Miên, giữ an bờ cõi, mở rộng biên cương nước Việt. Chính vì vậy, chúa Nguyễn đã ban danh hiệu cao quý Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị đều phong ông làm "Thượng đẳng thần".

Để tỏ lòng ngưỡng mộ và đền đáp công ơn người đã có công tổ chức khai phá, mở mang vùng đất Đồng Nai-Gia Định, nhân dân ở những nơi này gọi Trần Thượng Xuyên là "Đức Ông" và đều có lập đền thờ ông. Trong số ấy có Đình Tân Lân (Xóm Mới) ở Biên Hòa, nơi thờ chính tướng Trần Thượng Xuyên, đã được Bộ Văn hóa-Thông tin-Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ, ngày 25 tháng 3 năm 1991. Ngoài ra, Đình Minh Hương Gia Thạnhquận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cũng có gian thờ ông.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thượng Xuyên có người con trai tên Trần Đại Định, cưới con gái của Mạc Cửu, tổng trấn Hà Tiên. Năm 1725, Đại Định nối nghiệp cha, phục vụ dưới triều chúa Nguyễn Phúc Chú, được tập phong tước Định Viễn hầu, chức tổng binh, chỉ huy cả hai đạo binh Phiên Trấn và Long Môn. Năm Nhâm Tý (1731), quân Chân Lạp do một lưu dân Lào ở làng Prea Sot (Sà Tốt) đứng đầu sang cướp phá ở Gia Định, ông đắp lũy đất ở Hoa Phong để chống cự và rồi đánh đuổi được. Tuy lập được công, nhưng ông bị Thống suất Trương Phước Vĩnh vu tội, phải chạy ra kêu oan với chúa Nguyễn. Chúa Ninh sai giam ông vào nhà lao Quảng Nam. Khi điều tra ra việc thì ông đã bị ốm chết trong ngục. Trần Đại Định được chúa Ninh truy tặng hàm Ðô Ðốc Ðồng Tri thụy là Trương Mẫn, còn Phước Vĩnh vì tội vu oan bị giáng xuống làm cai đội[15].

Con trai của Trần Đại Định là Trần Đại Lực (tức Trần Hầu), rất được cậu ruột là Mạc Thiên Tích thương yêu và tin dùng. Họ Trần ở Biên Hòa và Họ Mạc ở Hà Tiên kết thông gia nhiều đời, như vợ Mạc Thiên Tích là người họ Trần quê ở Đồng Môn [16].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.dongnai.gov.vn/cong-dan/su-kien-noi-bat_CongDan/20081117.137
  2. ^ Dịch nghĩa: Họ Nguyễn làm vua, họ Trần làm tướng, công khanh đời đời không dứt.
  3. ^ Theo sách Hỏi đáp lịch sử Việt Nam (Tập 3) thì: Năm 1653, quân chúa nguyễn đã tiến đến vùng bờ trái sông Phan Rang ngày nay. Chiêm Thành khi ấy là một chư hầu, phải tuế cống. Năm 1692, vua Chiêm là Bà Tranh đem quân sang sông quấy phá. Chúa Nguyễn Phúc Chu cử thống binh Nguyễn Hữu Cảnh đem quân đánh dẹp. Năm 1693, Bà Tranh bị bắt đến năm sau thì mất. Và đến năm 1697, vùng đất cuối cùng của Chiêm Thành trên thực tế đã được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt (nhiều tác giả, Nhà xuất bản Trẻ, 2007, tr. 189).
  4. ^ Chà và: âm của chữ Java, Chà và là người đến từ đảo Java, về sau từ này được người Việt dùng để gọi tất cả những người có màu da ngăm ngăm như Chà Bom Bay (Bombay, Ấn Độ), Chà Ma ní (Manila, Philippines). Còn Tây dương là người đến từ phía Tây: Pháp, Hà Lan...
  5. ^ a ă â Đại Nam Thực lục Tiền biên, soạn năm 1844, Viện Sử học phiên dịch, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1962. tr. 136-140. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “a” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “a” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  6. ^ Bàn Lân hay Bàng Lân, sau đổi thành Tân Lân, có nghĩa là "Xóm Mới". Theo nhà văn Sơn Nam thì Bàn Lân là tiếng bằng lăng (một loại cây bản địa, trổ bông tím đẹp) nói trại ra (Cù lao Phố-Cảng biển đầu tiên ở Nam Bộ trong sách Nam Bộ xưa và nay, Nhà xuất bản TP HCM, 2005, tr. 121).
  7. ^ Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nhà xuất bản Văn nghệ TP. HCM, 1994, tr.30.
  8. ^ Nguyễn Tạo dịch, Quyển Thượng, Biên Hòa, Nha Văn Hóa Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1959, tờ 25.
  9. ^ Gia Định thành thông chí, mục Xuyên sơn chí.
  10. ^ Trước khi xảy ra sự kiện này, rất có thể vì lý do kinh tế, một bộ phận của nhóm Trần Thượng Xuyên, từ xã Thanh Hà ở Cù lao Phố (thuộc Trấn Biên), tự tách ra để đến ở trung tâm quận 5, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, và thành lập xã Minh Hương vào năm 1698, đúng như Trịnh Hoài Đức đã ghi: "Từ đó, con cháu người Tàu...ở Phiên Trấn lập thành xã Minh Hương rồi ghép vào sổ hộ tịch"... Năm 1885, Trương Vĩnh Ký chỉ rõ: "Địa phận nằm giữa đường Marins (xưa là Đồng Khánh, nay là Trần Hưng Đạo) với mé rạch Chợ Lớn, là nơi trú ngụ của người Minh Hương. Còn đền Trần Tướng quân, thờ Trần Thượng Xuyên, là lãnh tụ người Hoa sang tị nạn ở Việt Nam từ 1679 rồi nhận chức quan với chúa Nguyễn và có công lập chợ phố ở Sài Gòn". Như vậy có thể nói, năm 1778 không phải là niên đại khai sinh của Chợ Sài Gòn tức Chợ Lớn ngày nay, mà rất có thể là thời điểm người gốc Hoa ở xã Thanh Hà tự sáp nhập với xã Minh Hương mà thôi...(Địa chí văn hóa TP. HCM phần Lịch sử, Nhà xuất bản TP. HCM, 1987, tr. 164-165).
  11. ^ Tiến sau đó cũng bị bắt và bị giết chết. (Sơn Nam, Gia Định xưa, Nhà xuất bản TP.HCM, 1984, tr.30).
  12. ^ Lương Văn Lựu, Biên Hòa sử lược toàn biên, Quyển 2, Sài Gòn, 1973, tr. 118-120.
  13. ^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1968, tr. 331.
  14. ^ Theo web Văn nghệ Cửu Long
  15. ^ Xem chi tiết trong Gia Định thành thông chí (Quyển 6: Thành trì chí, mục: Cầu Cao Miên) [1].
  16. ^ Trương Minh Đạt, Nghiên cứu Hà Tiên, (Nhà xuất bản Trẻ, 2008, tr. 153-155) và [2]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]