Trường Trung học phổ thông Nguyễn Thượng Hiền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trường Trung học phổ thông Nguyễn Thượng Hiền
NTH.PNG
Tên tiếng AnhNguyen Thuong Hien High School
Tên cũTrường Trung học Tân Bình
Thông tin chung
Loại hìnhTrung học phổ thông
(Có lớp chuyên)
Thành lập1970
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởngLâm Triều Nghi
Hiệu phóTrần Thị Phụng
Nguyễn Ảnh Nam
Cơ quan quản lýSở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh
Giáo viên125 (2019)[1]
Nhân viên24 (2019)[1]
Học sinh1895 (2019)[2]
Thông tin khác
Khuôn viên21.606,6 m2
Địa chỉCổng chính: 544 Cách mạng tháng Tám, quận Tân Bình
Vị tríThành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Tọa độ10°47′35,07″B 106°39′16,62″Đ / 10,78333°B 106,65°Đ / 10.78333; 106.65000Tọa độ: 10°47′35,07″B 106°39′16,62″Đ / 10,78333°B 106,65°Đ / 10.78333; 106.65000 (10.793075, 106.654617)
Bài hátNguyễn Thượng Hiền – Trường Chúng Ta
WebsiteWebsite

Trường Trung học phổ thông Nguyễn Thượng Hiền là một trường trung học phổ thông công lập có lớp chuyên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trường được thành lập vào cuối năm 1969, với tên gọi ban đầu là Trường Trung học Tân Bình.[3]

Trường hiện có gần 2000 học sinh học ở ba khối lớp 10, 11 và 12 gồm các học sinh lớp chuyên, lớp chọn, lớp tích hợp (học các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh) và các lớp thường. Hiện nay, tất cả học sinh của trường đều được học tăng cường tiếng Anh. Trường là một trong số những trường có hoạt động phong trào sôi nổi cùng chất lượng đào tạo tốt nhất thành phố; trường THPT Nguyễn Thượng Hiền có tỉ lệ học sinh giỏi cấp quốc gia, cấp thành phố, tỉ lệ đậu đại học cao của thành phố. Kết thúc kì thi tuyển sinh Đại học - Cao đẳng năm 2016, trường đứng thứ 4 thành phố về tỉ lệ đỗ đại học và tốt nghiệp và đứng thứ 30 cả nước. Vào năm 2017, trường tiếp tục đứng thứ 38 quốc gia và thứ 4 thành phố.[cần dẫn nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1969, trường Trung học Tân Bình (tên trước đây của THPT Nguyễn Thượng Hiền) khai giảng niên khóa đầu tiên tại một ngôi trường đi thuê để học tạm là Trường tư thục Nhân Văn (nay là trường tiểu học Bành Văn Trân). Lúc ấy, trường Tân Bình mới thu nhận mười lớp học ở bậc Trung học đệ nhất cấp (cấp hai). Giáo viên khoảng hơn mười người.[3][4]

Năm thứ hai, niên khóa 1970-1971, trường mới được xây xong. Thầy trò trường Tân Bình dời về ngôi trường mới chính là vị trí của trường THPT Nguyễn Thượng Hiền ngày nay, tọa lạc tại số 544 đường Lê Văn Duyệt, quận Tân Bình (nay là 544 đường Cách mạng Tháng 8). Trường gồm một dãy lầu hai tầng, 12 phòng. Tám phòng ở hai tầng trên dùng làm phòng học, bốn phòng dãy trệt làm khu hành chính.[4]

Năm thứ ba, cơ sở trường xây dựng bổ sung thêm dãy lầu bên phải, hai tầng, 12 phòng. Lúc này, cả 24 phòng đều được sử dụng làm phòng học và thường được gọi là khu A hay khu Cách mạng Tháng Tám.[4]

Khoảng năm 1973, khi đội quân viễn chinh Ðại Hàn rút về nước, các khoảng đất trước đây do quân Hàn Quốc làm doanh trại, nay được giao cho trường Tân Bình sử dụng. Từ đó, diện tích của trường mở rộng hơn. Trường mở thêm các lớp đệ nhị cấp (cấp ba).

Niên khóa 1973-1974, trường đổi tên mới là 'Trường Trung học Nguyễn Thượng Hiền'.

Từ 1975 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1985, Nhà nước quyết định đổi tên trường thành 'Trường Cấp ba Nguyễn Văn Trỗi'. Sau đó không lâu, nhà trường lại được đổi tên thành 'Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thượng Hiền', vinh danh nhà nho học giỏi, hiếu nghĩa và yêu nước Nguyễn Thượng Hiền.[5]

Từ năm 1984, trường đã ổn định và bắt đầu nhận bằng khen trường xuất sắc của ngành giáo dục thành phố, luôn đạt danh hiệu trường tiên tiến, lá cờ đầu của ngành, lá cờ đầu toàn quốc, các Huân chương Lao động hạng nhất, nhì, ba... Trường có tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông thuộc loại cao nhất, điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 cao nhất, tỉ lệ đỗ đại học cao, các giải cao trong các cuộc thi các thành phố, quốc gia và quốc tế. Ngoài ra trường cũng đạt nhiều thành tích xuất sắc trong các hoạt động về văn thể khác. Năm 1997, trường xây dựng khu thí nghiệm và hành chính đối diện với khu thư viện và hội trường ngày nay bằng kinh phí tự túc, một số phòng hiện đã thay đổi chức năng, thư viện ngoại văn của trường cũng thuộc khu này. Năm 1999, trường được nhà nước đầu tư cho xây dựng, mở rộng, nâng cấp để trở thành một trường hoàn chỉnh, quy mô lớn. Trường long trọng tổ chức 30 năm thành lập trường vào năm 2000.[5]

Các thành tích nổi bật của nhà trường[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 11 năm 2008, trường đón nhận Huân chương lao động hạng Nhất do Nhà nước trao tặng.[5] Cùng năm đó, trường tiến hành nâng cấp phòng vi tính, khu bán trú, xây dựng lại nhà thi đấu thể thao, xây mới hồ bơi và phòng tập thể hình với tổng kinh phí 33 tỷ đồng và khánh thành các hạng mục này tại lễ kỷ niệm 40 năm thành lập trường vào ngày 24 tháng 4 năm 2010.

Năm 2012, trường là cơ sở giáo dục đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh được công nhận đạt tiêu chuẩn 'Chất lượng giáo dục cấp độ ba' - cấp độ cao nhất trong các cấp độ kết quả kiểm định chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục phổ thông.

Năm học 2012-2013 trường vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Trong các buổi lễ khai giảng, bế giảng, kỷ niệm Ngày nhà giáo Việt Nam, trường luôn được sự quan tâm của lãnh đạo thành phố. Trong buổi lễ khai giảng năm học 2012 - 2013, trường vinh hạnh đón tiếp đồng chí Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành Ủy thành phố và ông Lê Hồng Sơn, Giám đốc Sở Giáo dục và đào tạo. Tại buổi lễ, Bí thư Thành Ủy Lê Thanh Hải tin tưởng và mong muốn học sinh trường Trung học phổ thông Nguyễn Thượng Hiền luôn luôn học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, say mê học tập, rèn luyện đạo đức và lối sống để báo hiếu gia đình, trở thành người công dân ưu tú của Thành phố Hồ Chí Minh, của đất nước Việt Nam.

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm học 2020-2021, cả trường có tất cả là 52 lớp, trong đó có 15 lớp chuyên, 8 lớp tích hợp và 33 lớp thường.

Phòng học[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có 60 phòng học dành cho cả ba khối lớp, hiện tại chỉ có 50 phòng đang sử dụng, các phòng còn lại dùng làm phòng học ngoại khóa, một số không sử dụng. Trước đây, trung bình mỗi lớp có 45 đến 50 học sinh. Tuy nhiên, từ năm học 2010-2011, trường giảm bớt chỉ tiêu nhằm giảm sĩ số của mỗi lớp xuống còn 40 đến 45 học sinh mỗi lớp thường và khoảng 30 đến 40 học sinh mỗi lớp chuyên và tích hợp. Từ năm học 2012 - 2013, trong mỗi phòng học đều được trang bị một bộ máy vi tính và một tivi LCD khổ lớn kết nối với máy tính để thực hiện việc trình chiếu trong giảng dạy.[4]

Khu vi tính[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vi tính bao gồm 4 phòng vi tính riêng biệt để các học sinh thực hành môn tin học. Thế nhưng chỉ có 3 phòng được sử dụng, phòng còn lại nằm bên phải cửa vào khu vi tính có diện tích nhỏ, không còn đáp ứng được sĩ số các lớp nên không được sử dụng.[6]

Phòng thí nghiệm, thực hành[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có 3 phòng thí nghiệm, thực hành dành cho môn Vật lý, Hóa học và Sinh học ở tầng 3 và 4 của khu B với nhiều thiết bị chuyên dụng.[1]

Thư viện[sửa | sửa mã nguồn]

Thư viện chính của trường nằm đằng sau phòng giáo viên, bao gồm rất nhiều đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau đáp ứng nhu cầu tra cứu, tìm hiểu của học sinh. Học sinh được yêu cầu làm thẻ thư viện để mượn sách. Thư viện ngoại văn của trường nằm trên tầng một của khu hành chính, bên cạnh phòng nghe nhìn số 1.

Khu vực thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực thể thao được nhà trường cho thuê, mở các lớp học dành cho mọi người chứ không chỉ riêng cho học sinh trong trường.

Nhà thể thao đa năng[sửa | sửa mã nguồn]

Bên ngoài nhà thi đấu và sân cỏ nhân tạo của trường

Nhà thi đấu của trường có diện tích 800 m², được sử dụng cho bộ môn Thể dục và Giáo dục Quốc phòng - An ninh bên cạnh chức năng thi đấu thể thao. Nhà thi đấu có một tầng hầm được tận dụng làm bãi giữ xe đạp của học sinh.

Phòng tập thể hình và hồ bơi[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:NTH-SP3.jpg
Hồ bơi của trường

Phòng tập thể hình nằm ở tầng trệt, thường được sử dụng cho môn ngoại khóa là thể hình và được trường cho thuê. Nằm ở tầng trên của phòng tập thể hình là hồ bơi. Cầu thang lên hồ bơi được lắp đặt ở bên ngoài phòng tập thể hình.

Sân bóng đá[sửa | sửa mã nguồn]

Năm học 2010 - 2011, nhà trường nâng cấp sân bóng đá bằng việc lát mới loại cỏ nhân tạo, lắp đặt dàn đèn và lưới bảo vệ xung quanh sân. Sân có diện tích 1125 m².

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trường còn có một phòng y tế bên cạnh phòng giáo viên, 4 phòng bộ môn được chia theo khối và 3 hội trường. Ngoài ra còn có một dãy phòng bán trú nằm phía sau nhà thi đấu.

Các đời Hiệu trưởng - Hiệu phó[sửa | sửa mã nguồn]

Năm học Hiệu trưởng Hiệu phó
1969-1970 Nguyễn Ngọc Xương
1970-1975 Nguyễn Tiến Thành
1975-? Lê Bền
1977-1979 Lê Thị Mỹ Bích
1978-1980 Lê Thị Phương Ngôn
1978-1982 Văn Đức Kim
1979-1982 Trần Kiết Hùng
1982-1998 Lê Bền Nguyễn Hoài Chương
1983-2003 Trương Quang Hiệp
1985-1998 Nguyễn Hữu Nghi Nguyễn Hoài Chương, Trương Quang Hiệp
1998-2003 Nguyễn Hoài Chương Hồ Cam Thanh, Trương Quang Hiệp
2003-2004 Hồ Cam Thanh, Trương Quang Dũng
2004-2012 Hồ Cam Thanh Trương Quang Dũng, Võ Văn Dũng
2012-2013 Võ Văn Dũng, Trần Thị Phụng
2013-7/2014 Võ Văn Dũng Trần Thị Phụng
7/2014-3/2018 Trần Thị Phụng, Nguyễn Ảnh Nam
3/2018 - 10/2018 Trần Thị Phụng (quyền) Nguyễn Ảnh Nam
10/2018 - nay Lâm Triều Nghi[7][8] Trần Thị Phụng, Nguyễn Ảnh Nam
Tập tin:NTH-HC.jpg
Khu hành chính. Bên trái là bức tượng của nhà nho Nguyễn Thượng Hiền.

Thành tích học tập[sửa | sửa mã nguồn]


Năm học 2004-2009[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • 100% cán bộ, giáo viên và công nhân viên đạt Lao động tiên tiến hàng năm.
  • 166 Chiến sĩ thi đua cơ sở
  • 30 Chiến sĩ thi đua cấp thành phố.
  • 08 Bằng khen Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • 04 Giáo viên được vinh dự nhận giải thưởng Võ Trường Toản.
  • 55 giáo viên nhận Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp giáo dục".
  • 05 Nhà giáo ưu tú.

Học sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tập tin:NTH-HL.jpg
Khu thư viện, hội trường và phòng giáo viên
  • 100% học sinh lên lớp thẳng, trong đó số học sinh giỏi chiếm 63,3, tỉ lệ khá - giỏi đạt 98,84%. Hạnh kiểm tốt đạt 95%.[9]
  • 100% học sinh đậu tốt nghiệp phổ thông trung học, trong đó: Giỏi: 38,67%, Khá - Giỏi: 77,92%.[9]
  • 13 giải Quốc gia, 175 giải Olympic 30/4 các tỉnh phía Nam, 294 giải thành phố.
  • Hơn 90% đậu Đại học - Cao đẳng (có 15 thủ khoa Đại học và 03 thủ khoa TNPT).
  • Chi bộ đạt "Trong sạch vững mạnh", Công đoàn đạt "Vững mạnh xuất sắc", Tổ chức Đoàn đạt "Cơ sở Đoàn vững mạnh" nhiều năm liền.
  • Năm học 2008-2009 trường vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Nhất.
  • Năm học 2012-2013 trường vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương Độc lập hạng Ba.

Thông số[sửa | sửa mã nguồn]

Hạnh kiểm
Năm học Tốt Khá Trung bình Yếu
2009-2010 2045 49 20
2010-2011 2016 57 0 9
2011-2012 1893 57 8 1
2017-2018 1890 29 2 0
Học lực
Năm học Giỏi Khá Trung bình Yếu
2009-2010 1485 609 20 0
2010-2011 1345 703 34 0
2011-2012 1276 668 15 0
2017-2018 1510 398 13 0
Thành tích Học sinh giỏi Thành phố:
Năm học Nhất Nhì Ba Tổng
2009-2010 30 25 31 86
2010-2011 25 20 43 88
2011-2012 32 34 29 95
2012-2013 35 26 50 111
2013-2014 40 20 35 95
2017-2018 22 44 56 122

Tính đến năm 2014 trường đã có hơn 1000 giải thành phố (tính số học sinh được công nhận giải 1 thành phố trong kì thi chọn đội tuyển quốc gia và cả số học sinh đạt giải trong kì thi học sinh giỏi thành phố tổ chức thường niên vào tháng 3)

Thành tích Olympic 30/4
Năm học Hạng HCV HCB HCĐ Tổng
2009 - 2010 4 17 10 11 38
2010 - 2011 9 13 12 14 39
2011 - 2012 17 7 17 9 33
2012 - 2013 19 6 15 8 29
2013 - 2014 13 16 18 7 41
2017 - 2018 9 15 21 45
2018 - 2019 14 12 17 17 46

Tính đến năm 2013 trường đã có hơn 640 giải Olympic (trong đó có 194 Huy chương Vàng)

Thành tích Học sinh giỏi Quốc gia
Năm học Số giải Ghi chú
1994-1995 4 KK Toán, III Tin học, 2 giải KK Văn
1995-1996 4 KK Lý, III Văn, 2 giải KK Anh
1996-1997 2 III Sử, KK Văn
1997-1998 3 KK Sử, II Địa, III Sinh
1998-1999 4 II/III Địa, KK Sinh, III Văn
1999-2000 9 III/2 giải KK Sinh, 3 giải II/III Địa, III Văn, KK Tiếng Anh
2000-2001 9 KK/2 giải III Sinh, III Hóa, III Sử, III Văn, KK/2 giải II/III Địa
2001-2002 3 II/2 giải III Địa
2002-2003 4 KK/III Địa, KK Sinh, III Văn
2003-2004 5 2 giải III Anh, III Sinh, KK Địa, KK Sử
2004-2005 1 KK Địa
2005-2006 4 II/KK Văn, KK/III Địa
2006-2007 3 KK/II Sử, II Hóa
2007-2008 3 2 giải II Sử, III Sinh
2008-2009 2 KK Địa, KK Sinh
2009-2010 2 III Văn, III Địa
2010-2011 5 KK/III Văn, KK/III Sử, KK Địa
2011-2012 5 KK Tin, III Văn, III Sinh, KK Toán, KK Sử
2012-2013 5 III Hóa, KK Sinh, III Văn, III Địa, KK Sử
2013-2014 5 III Toán, III Tin, III Sử, 2 KK Văn
2017-2018 2 III Sử, III Anh

Tính theo môn dự thi

Môn Nhất Nhì Ba KK
Toán - - 1 2
Tin - - 1 2
- - - 1
Hoá - 1 2 -
Sinh - - 6 6
Văn - 1 9 5
Sử - 3 4 6
Địa - 6 9 6
Anh - - 2 3

Điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Trung học phổ thông Nguyễn Thượng Hiền luôn là một trong các trường có điểm thi đầu vào tuyển sinh lớp 10 công lập cao nhất thành phố Hồ Chí Minh.[10] Dưới đây là bảng tổng hợp điểm chuẩn tuyển sinh từng năm:

Năm học NV1 NV2 NV3 Thứ tự
2006-2007 40.5 40.5 - 2
2007-2008 40.5 40.5 - 1
2008-2009 41.75 42.75 43.75 1
2009-2010 39.25 40.25 41.25 1
2010-2011 41.75 42.75 43.75 1
2011-2012[11] 39 40 41 1
2012-2013[12] 40.75 41 41 1
2013-2014 38.25 39.25 40.25 1
2014-2015 41.75 42.75 43.75 1
2015-2016 41.25 42.25 43.25 1
2016-2017 41.25 42.25 43.25 1
2017-2018 40 41 42 1
2018-2019[13] 41 42 43 1
2019-2020[14][15] 37.5 37.75 38 1
2020-2021 41 41.5 42 1

Điểm chuẩn lớp 10 và lớp chuyên của trường trong các năm 2011, 2012, 2013, 2014 và 2015 cụ thể như sau:[16]

Năm 2011[sửa | sửa mã nguồn]

Anh (NV1: 37,5; NV2: 38,00)

Hoá (NV1: 38,5; NV2: 39,00)

Lí (NV1: 40,50; NV2: 40,5)

Sinh (NV1: 36,50; NV2: 36,50)

Toán (NV1: 35,50; NV2: 36,00)

Văn (NV1: 37,50; NV2: 37,50)

Năm 2012[sửa | sửa mã nguồn]

Anh (NV1: 35.25; NV2: 35.75)

Hoá (NV1: 33.75; NV2: 34.25)

Lí (NV1: 32.00; NV2: 32.50)

Toán (NV1: 32.00; NV2: 32.50)

Văn (NV1: 36.50; NV2: 37.00)

Năm 2013[sửa | sửa mã nguồn]

Lí (NV1: 33.50; NV2: 34.00)

Toán (NV1: 34.25; NV2: 34.50)

Văn (NV1: 35.25; NV2: 35.75)

Anh (NV1: 34.50; NV2: 35.25)

Hoá (NV1: 31.00; NV2: 31.25)

Năm 2014:[sửa | sửa mã nguồn]

Toán (NV1: 36.75; NV2: 37.25)

Văn (NV1: 36.75; NV2: 37.25)

Anh (NV1: 35.50; NV2: 36.25)

Lí (NV1: 31.75; NV2: 32.25)

Hóa (NV1: 33.00; NV2: 33.50)

Năm 2015:[sửa | sửa mã nguồn]

Toán (NV1: 35.25; NV2: 35.25)

Văn (NV1: 36.50; NV2: 36.75)

Anh (NV1: 35.50; NV2: 36.50)

Lí (NV1: 32.75; NV2: 33.75)

Hóa (NV1: 35.50; NV2: 36.25)

Kết quả tuyển sinh Đại học và Cao đẳng[sửa | sửa mã nguồn]

Trường liên tiếp lọt vào bảng xếp hạng Top 100 trường Trung học phổ thông có điểm thi Đại học cao nhất Việt Nam do Cục Công nghệ thông tin thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố.[17][18] Dưới đây là kết quả từng năm:

Năm học Tổng lượt dự thi Điểm TB Thứ tự trong cả nước Thứ tự trong Thành phố Hồ Chí Minh
2006-2007 12 2 (Sau trường: chuyên Lê Hồng Phong)
2007-2008[19] 1,279 18.12 41 5 (Sau các trường: Phổ thông Năng Khiếu, chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa và DL Nguyễn Khuyến)
2008-2009[20] 1,137 18.09 42 5 (Sau các trường: Phổ thông Năng Khiếu, chuyên Lê Hồng Phong trường chuyên Trần Đại Nghĩa và DL Nguyễn Khuyến)
2009-2010[21] 1,227 17.54 38 4 (Sau 3 trường: Phổ thông Năng Khiếu, chuyên Lê Hồng Phong và chuyên Trần Đại Nghĩa)
2010-2011[22] 1,155 18.25 32 5 (Sau các trường: Phổ thông Năng Khiếu, chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa và DL Nguyễn Khuyến)
2011-2012 1,202 19.03 30 4 (Sau 3 trường: Phổ thông Năng Khiếu, chuyên Lê Hồng Phong và chuyên Trần Đại Nghĩa)

Trong các kì thi đại học, trường luôn có nhiều học sinh đạt thủ khoa trường, á khoa trường, thủ khoa ngành và vào top các thí sinh điểm có cao nhất nước.[10] Học sinh trường Nguyễn Thượng Hiền luôn chọn các trường đại học hàng đầu để thi tuyển như các trường thuộc khối Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh...

Kết quả tốt nghiệp Trung hoc phổ thông[sửa | sửa mã nguồn]

Trường đã nhiều năm liền liên tiếp dẫn đầu thành phố về tỉ lệ tốt nghiệp Trung học phổ thông (100% tốt nghiệp Trung học phổ thông và tỉ lệ khá giỏi luôn cao). Năm học 2011 - 2012 trường có tỉ lệ tốt nghiệp khá giỏi 79.7% - cao nhất thành phố. Ngoài ra, trường cũng có nhiều học sinh đạt thủ khoa tốt nghiệp Trung học phổ thông (đặc biệt năm 2008, trường có đến 3 thủ khoa trên tổng số 4 thủ khoa tốt nghiệp Trung học phổ thông của toàn Thành phố Hồ Chí Minh).[17][22]

Kết quả thi tốt nghiệp
Năm học Tỷ lệ đậu Tỷ lệ khá giỏi
2005-2006 100% 82.1%
2006-2007 100% 84.86%
2007-2008 100% 80%
2008-2009 100% 66.67%
2009-2010 100% 51.28%
2010-2011 100% không rõ
2011-2012 100% 79.7%
2012-2013 100% không rõ

Hoạt động ngoại khóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có mở nhiều lớp ngoại khóa cho học sinh trong năm học. Những hoạt động ngoại khóa này là bắt buộc và học sinh được lựa chọn những môn học yêu thích để đăng ký, bao gồm:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Công khai các thông tin trường học đầu năm” (bằng tiếng Việt). 30 tháng 9 năm 2019. Truy cập 19 tháng 10 năm 2019.
  2. ^ Số liệu thống kê học sinh vào đầu năm học 2019-2020 do Nhà trường công bố vào buổi họp PHHS đầu năm.
  3. ^ a ă “Giới thiệu về trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, quận Tân Bình - HCM-edu-website”.
  4. ^ a ă â b “THPT Nguyễn Thượng Hiền - Giới thiệu”.
  5. ^ a ă â “Thăm THPT Nguyễn Thượng Hiền, trường có điểm chuẩn đầu vào cao nhất TP.HCM”.
  6. ^ “Cơ sở vật chất, phòng học, chất lượng giảng dạy - THPT Nguyễn Thượng Hiền”.
  7. ^ “TP.HCM: Thầy hiệu trưởng mới của teen THPT Nguyễn Thượng Hiền được đón tiếp như "ngôi sao hạng A" - Báo Hoa học đường”.
  8. ^ “trưởng trường Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Thượng Hiền - Báo Người lao động”.
  9. ^ a ă Các chỉ số trên được tính trung bình trong 5 năm học 2009-2014
  10. ^ a ă “Về thăm trường cũ, shark Khoa tạo quỹ học bổng cho đàn em - Zingvn, trích đoạn cuối bài”.
  11. ^ Điểm chuẩn lớp 10 tại TP.HCM: Các trường đều giảm Báo Thanh Niên, ngày 16/7/2011
  12. ^ “TPHCM công bố điểm chuẩn vào lớp 10 công lập”. Dân trí. ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2014.
  13. ^ TP HCM công bố điểm chuẩn lớp 10 năm học 2018 - 2019 Đài Tiếng nói Việt Nam, ngày 4/7/2018
  14. ^ “TP.HCM công bố điểm chuẩn lớp 10 sớm hơn dự kiến một tuần - Zing.vn”.
  15. ^ “TP.HCM công bố điểm chuẩn lớp 10 của 107 trường công lập - News Zing”.
  16. ^ “TP HCM: Công bố chỉ tiêu vào lớp 10 các trường chuyên - Báo Người Lao động”.
  17. ^ a ă “Top 10 trường THPT tốt nhất tại TPHCM - thithpt.edu.vn”.
  18. ^ “Top 100 trường THPT tốt nhất Việt Nam”.
  19. ^ Top 200 trường có điểm thi đại học cao nhất năm 2008 Báo Điện tử VnExpress, ngày 13/1/2009
  20. ^ Top 200 trường thpt có điểm thi ĐH cao nhất năm 2009 Báo Điện tử Dân Trí, ngày 10/8/2009
  21. ^ Top 200 trường thpt có điểm thi ĐH cao nhất năm 2010 Báo Điện tử Dân Trí, ngày 11/8/2010
  22. ^ a ă Top 200 trường thpt có điểm thi ĐH cao nhất năm 2011 Báo Hoa học trò, ngày 16/8/2011

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]