Mèo Vạc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Mèo Vạc
Huyện Mèo Vạc
Huyện
Thị trấn Mèo Vạc.jpg
Thị trấn Mèo Vạc nhìn từ trên cao
Hành chính
VùngĐông Bắc Bộ
TỉnhHà Giang
Huyện lỵThị trấn Mèo Vạc
Trụ sở UBNDTổ dân phố 1, thị trấn Mèo Vạc
Phân chia hành chính1 thị trấn, 17 xã
Thành lập15/12/1962[1]
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDNguyễn Cao Cường
Chủ tịch HĐNDThào Mí Sính
Bí thư Huyện ủyVương Ngọc Hà
Địa lý
Tọa độ: 23°09′09″B 105°24′21″Đ / 23,1525°B 105,4058333°Đ / 23.1525; 105.4058333
Diện tích574,18 km²
Bản đồ huyện Mèo Vạc
Dân số (2019)
Tổng cộng86.071 người[2]
Thành thị6.850 người (8%)
Nông thôn79.221 người (92%)
Mật độ150 người/km²
Dân tộcMông (>80%)
Khác
Mã hành chính027[3]
Biển số xe23-P1
Websitemeovac.hagiang.gov.vn

Mèo Vạc là một huyện miền núi biên giới thuộc tỉnh Hà Giang, Việt Nam.[4][5]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Mèo Vạc có vị trí địa lý:

Huyện Mèo Vạc có diện tích 574,18 km², dân số năm 2019 là 86.071 người[2], mật độ dân số đạt 150 người/km².

Huyện Mèo Vạc cùng với các huyện Yên Minh, Đồng Văn, Vị Xuyên là bị thiệt hại nặng trong 2 cuộc chiến tranh biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Huyện cũng là điểm sáng trong tinh thần đoàn kết dân tộc khi nhân dân xã Sơn Vĩ (hơn một nửa là dân tộc thiểu số) không sơ tán mà ở lại để chiến đấu và tiếp tế lương thực cho bộ đội.

Địa hình chủ yếu của huyện là núi đá vôi, có sông Nho Quế chảy qua. Đất nông nghiệp chiếm khoảng 12.100 ha. Sinh hoạt nông nghiệp là trồng trọt và khai thác các loại cây dược liệu, tam thất, hồ đào,... Ngành chăn nuôi có những gia súc , , ngựa. Có Quốc lộ 2A chạy qua.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 13 tháng 12 năm 1962, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 328-NV[6] về việc:

  • Đổi tên xã Hòa Bình thành xã Mèo Vạc
  • Đổi tên xã Tự Do thành xã Cán Chu Phìn
  • Đổi tên xã Thống Nhất thành xã Pả Vi.

Ngày 15 tháng 12 năm 1962, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 211-CP[1] về việc thành lập huyện Mèo Vạc trên cơ sở tách 16 xã: Cán Chu Phìn, Giàng Chu Phìn, Hố Quáng Phìn, Khâu Vai, Lũng Chinh, Lũng Phìn, Lũng Pù, Mèo Vạc, Pả Vi, Pải Lủng, Sơn Vĩ, Sủng Máng, Sủng Trà, Sủng Trái, Thượng Phùng, Xín Cái thuộc huyện Đồng Văn.

Ngày 14 tháng 5 năm 1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 185/1981/QĐ-CP[7] về việc tách hai xóm Lùng Sư và Thèn Sư của Xín Cái để sáp nhập vào xã Thượng Phùng.

Ngày 21 tháng 10 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 179/HĐBT[8] về việc:

  • Tách 3 xã: Niêm Sơn, Nậm Ban, Tát Ngà của huyện Yên Minh để sáp nhập vào huyện Mèo Vạc
  • Tách 3 xã: Hố Quáng Phìn, Sủng Trái, Lũng Phìn của huyện Mèo Vạc sáp nhập vào huyện Đồng Văn.[9]

Huyện Mèo Vạc có 13 xã: Cán Chu Phìn, Giàng Chu Phìn, Khâu Vai, Lũng Chinh, Lũng Pù, Mèo Vạc, Nậm Ban, Niêm Sơn, Pả Vi, Pải Lủng, Sơn Vĩ, Sủng Máng, Sủng Trà, Tát Ngà, Thượng Phùng, Xín Cái.

Ngày 20 tháng 8 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định 74/1999/NĐ-CP[10] về việc sáp nhập hai thôn Lùng Vái, Phố Mỳ của xã Sủng Trà thuộc huyện Mèo Vạc vào xã Mèo Vạc để thành lập thị trấn Mèo Vạc và xã Tả Lủng.

Ngày 9 tháng 8 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2005/NĐ-CP[11] về việc thành lập xã Niêm Tòng trên cơ sở 2.013,75 ha diện tích tự nhiên và 2.276 nhân khẩu của xã Niêm Sơn, 1.137,50 ha diện tích tự nhiên và 1.380 nhân khẩu của xã Khâu Vai.

Từ đó, huyện Mèo Vạc có 1 thị trấn và 17 xã, giữ ổn định cho đến nay.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Mèo Vạc có 18 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Mèo Vạc (huyện lỵ) và 17 xã: Cán Chu Phìn, Giàng Chu Phìn, Khâu Vai, Lũng Chinh, Lũng Pù, Nậm Ban, Niêm Sơn, Niêm Tòng, Pả Vi, Pải Lủng, Sơn Vĩ, Sủng Máng, Sủng Trà, Tả Lủng, Tát Ngà, Thượng Phùng, Xín Cái.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chợ tình Khau Vai.
  • Làng Du lịch dân tộc Lô lô.
  • Hẻm vực Tu Sản
  • Đèo Mã Pì Lèng
  • Con đường Hạnh Phúc
  • Làng Văn Hóa Du lịch cộng đồng Dân tộc Mông, Thôn Pả Vi Hạ, Xã Pả Vi (Ngay chân đèo Mã Pi Lèng, hướng đi Mèo Vạc - Đồng Văn)
  • Vách đá trắng
  • Tượng đài thanh niên xung phong
  • Làng Văn hóa du lịch cộng đồng dân tộc Giấy thôn Tát Ngà, xã Tát Ngà
  • Thác trắng (thôn Tát Ngà)
  • Đài quan sát (thị trấn Mèo Vạc)
  • Rừng đầu nguồn Sán Tớ
  • Trang trại nuôi lợn đen (Bờ sông Nho Quế)
  • Hầm rượu ông tiên (Thôn Ha Ái, Cán Chu Phìn)

Ẩm thực:

  • Mèn mén
  • Thắng cố (bò, dê, ngựa)
  • Gạo khẩu mang
  • Rượu ngô men lá.
  • Mật ong bạc hà (Sản phẩm đạt 4* Occop)
  • Thịt bò vàng
  • Ớt gió (siêu cay, siêu sạch, siêu thơm)
  • Mác khén
  • Óc chó
  • Lê Sủng Máng.
  • Mận
  • Bột nghệ vàng, tinh bột nghệ (Xã Khâu Vai, Pải Lủng)

Thổ cẩm: +Dệt lanh của dân tộc mông +Thêu của dân tộc Lô Lô

Đan lá quẩy tấu

Dụng cụ âm thanh khèn mông, đàn nhị dân tộc Giấy xã Nậm Ban

Đan nón lá chít: Xã Nậm Ban

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b Quyết định số 211-CP năm 1962
  2. ^ a b Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. “Dân số đến 01 tháng 4 năm 2019 - tỉnh Hà Giang”. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020.
  3. ^ Tổng cục Thống kê
  4. ^ Thông tư 21/2013/TT-BTNMT ngày 01/08/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Danh mục địa danh... phục vụ công tác thành lập bản đồ tỉnh Hà Giang. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 25/12/2018.
  5. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 08/07/2004 ban hành Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam có đến 30/6/2004. Thuky Luat Online, 2016. Truy cập 25/12/2018.
  6. ^ Quyết định số 328-NV về việc đổi tên một số xã thuộc huyện Đồng Văn
  7. ^ Quyết định 185-CP năm 1981 điều chỉnh địa giới một số xã thuộc tỉnh Hà Tuyên
  8. ^ Quyết định 179-HĐBT năm 1982 về việc điều chỉnh địa giới giữa huyện Yên Minh và huyện Mèo Vạc
  9. ^ “Lịch sử hình thành huyện Mèo Vạc”. Cổng thông tin điện tử huyện Mèo Vạc. 30 tháng 4 năm 2014.
  10. ^ Nghị định 74/1999/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập thị trấn và xã thuộc các huyện Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Quang, Hoàng Su Phì và thị xã Hà Giang, tỉnh Hà Giang
  11. ^ Nghị định số 104/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập phường, xã thuộc thị xã Hà Giang và huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xã có tên là Khau Vai, theo tiếng Tày, Nùng có nghĩa là "đèo gai". Vì các lý do không rõ, các văn liệu tiếng phổ thông viết thành Khâu Vai.