Trần Văn Chơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TRẦN VĂN CHƠN
Tiểu sử
Sinh 24 tháng 9 năm 1920 (97 tuổi)
Vũng Tàu, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1974
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị Tổ quốc - Đại dương.gif Quân chủng Hải quân
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ III[1]

Trần Văn Chơn (1920), nguyên là một tướng lĩnh Hải Quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Hải hàm Đề đốc, cấp bậc Thiếu tướng. Ông đã tốt nghiệp và phục vụ trong ngành Hàng hải từ sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông. Sau đó được tuyển sang Quân chủng Hải quân và xuất thân từ khóa Sĩ quan đầu tiên tại trường Hải quân Việt Nam được Chính phủ Quốc gia tiếp quản từ cơ sở Hải quân Pháp ở Duyên hải Trung phần. Ông đã phục vụ trong Quân chủng này cho đến ngày giải ngũ.

Tiểu sử và binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 24 tháng 9 năm 1920 trong một gia đình khá giả tại Vũng Tàu,[2] Nam phần Việt Nam trong một gia đình khá giả. Năm 1939, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I). Năm 1940, ông thi vào ngành Hàng hải Thương thuyền[3] của Pháp tại Sài Gòn.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1951, từ Hàng hải Thương thuyền ông được tuyển chọn vào Quân chủng Hải quân. Theo học khóa 1[4] tại trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang, thuộc ngành Chỉ huy, khai giảng ngày 1 tháng 1 năm 1952. Với tổng số 9 khoá sinh (6 người thuộc ngành Chỉ huy và 3 người thuộc ngành Cơ khí), tất cả được đưa xuống Hàng không Mẫu hạm Arromanches để huấn luyện chuyên nghiệp, sau đó luân chuyển qua các Chiến hạm Viễn Đông của Hải quân Pháp như: Foudre, Lamotte Piquet v.v...[5] Tháng 7 năm 1952, khóa học của ông trở về Nha Trang để tiếp tục thụ huấn. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, mãn khóa tốt nghiệp Thủ khoa với cấp bậc Hải quân Thiếu úy. Ra trường, ông được điều động đi phục vụ trong Hải đoàn Xung phong và được giao chỉ huy 4 Trung vận đỉnh với nhiệm vụ mở đường, rà mìn và tuần tiễu.

Đầu tháng 10 năm 1953, ông được thăng cấp Hải quân Trung úy giữ chức Chỉ huy phó Hải đoàn Xung phong ở Vĩnh Long. Đầu năm 1954, ông được chuyển ra Bắc phần nhận chức Chỉ huy phó Hải đoàn Xung phong Ninh Giang. Tháng 6 cùng năm, Hải đoàn Ninh Giang di chuyển vào Nam, đặt căn cứ tại Mỹ Tho và cải danh thành Hải đoàn Mỹ Tho do Hải quân Đại úy Lê Quang Mỹ làm Chỉ huy trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, từ Quân đội Quốc gia chuyển sang cơ cấu mơi là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Hải quân Đại úy và được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trợ chiến hạm Linh Kiếm HQ-226. Cuối tháng 8 cùng năm, ông được chuyển nhiệm vụ giữ chức Chỉ huy trưởng Lực lượng Giang đoàn thay thế Hải quân Thiếu tá Lê Quang Mỹ được bổ nhiệm vào chức vụ làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân.

Tháng 4 năm 1956, ông được thăng cấp Hải quân Thiếu tá tại nhiệm. Đầu năm 1957, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân thay thế Hải quân Đại tá Lê Quang Mỹ và ông kiêm nhiệm luôn chức vụ Giám đốc Hải quân Công xưởng. Giữa năm 1958, ông nhận lệnh bàn giao chức vụ Giám đốc Hải quân Công xưởng lại cho Đại tá Nguyễn Dần (nguyên là Kỹ sư cầu cống).

Thượng tuần tháng 6 năm 1959, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân lại cho Hải quân Thiếu tá Hồ Tấn Quyền. Ngày lễ Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Hải quân Trung tá. Đầu năm 1960, ông là sĩ quan cao cấp của Quân chủng Hải quân đầu tiên được cử đi du học lớp Chỉ huy tại trường Hải chiến (Naval War College) tại Newport, Tiểu bang Rhode Island, Hoa Kỳ. Tháng 6 cùng năm trở về nước, ông được tái nhiệm chức vụ Giám đốc Hải quân Công xưởng. Đầu năm 1961, ông kiêm nhiệm thêm chức vụ Phụ tá cho Đại tá Dương Ngọc Lắm, Tổng Giám đốc Bảo an và Dân vệ. Đến tháng 2 năm 1962, ông nhận nhiệm vụ mới với chức vụ Chỉ huy trưởng Lực lượng Tuần giang (sau cải danh thành Liên đoàn Tuần giang Địa phương).

Ngày lễ Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1966, ông được thăng cấp Hải quân Đại tá và được tái nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân thay thế Trung tướng Cao Văn Viên.[6]

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng Hải hàm Phó Đề đốc, cấp bậc Chuẩn tướng tại nhiệm.

  • Cũng trong năm này, Hải quân Việt Nam Cộng hòa nhận lãnh các Chiến hạm do Hoa Kỳ chuyển giao gồm:
    -8 Tuần duyên đĩnh mang số từ HQ-700 đến HQ-707.
    -Dương vận hạm Vũng Tàu HQ-503.

Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1970, ông được thăng Hải hàm Đề đốc, cấp bậc Thiếu tướng tại nhiệm. Ngày 11 tháng 9 năm 1971, ông chủ tọa lễ mãn khóa 22 Đệ nhị Nam Dương Sĩ quan Hải quân ngành chỉ huy (khai giảng tháng 9 năm 1970) cùng trao kiếm chỉ huy và gắn cấp hiệu Hải quân Chuẩn úy cho Thủ khoa Nguyễn Tấn Khải. Ngày 16 tháng 6 năm 1973, chủ tọa lễ mãn khóa 10C, trao kiếm chỉ huy và gắn cấp hiệu Hải quân Chuẩn úy cho Thủ khoa Nguyễn Bá Thắng.

Ngày 1 tháng 11 năm 1974, ông được giải ngũ vì đáo hạn tuổi, cộng thêm lý do đã trên 20 năm phục vụ trong quân đội, sau khi bàn giao chức Tư lệnh Hải quân lại cho Đề đốc Thiếu tướng Lâm Ngươn Tánh (nguyên Tư lệnh phó).

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4, ông là vị tướng duy nhất của Hải quân bị bắt đi tù lưu đày. Lần lượt từ Nam ra Bắc qua các trại giam: Quang Trung, Yên Bái, Nam Hà cho đến ngày 14 tháng 9 năm 1987 ông mới được trả tự do.

Tháng 12 năm 1991, ông cùng gia đình xuất cảnh theo diện H.O do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh. Sau đó định cư tại San Jose, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

- đệ tam đẳng Bảo Quốc Huân Chương.

-Một số Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.
- 1 Chiến thương Bội tinh và nhiều huy chương Quân sự, Dân sự khác.
-2 Legion of Merit (Degree of Commander, Hoa Kỳ).
-Combat Distinguishing (Hoa Kỳ).
-1 Huân chương đệ II (Đại Hàn).
-1 Huân chương đệ II (Thái Lan)

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Trần Văn Núi
  • Thân mẫu: Cụ Lê Thị Đô
  • Phu nhân: Bà Lâm Thị Loan - Ông bà có 10 người con gồm 6 trai, 4 gái.
  • Trưởng nam: Hải quân Đại uý Trần Minh Chánh (khóa 24 Võ bị Đà Lạt và khóa 1 Sĩ quan Đặc biệt Hải quân).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng.
  2. ^ Nay là Thành phố trực thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
  3. ^ Thời gian phục vụ ở ngành Hàng hải Thương thuyền, Đề đốc CHƠN đã được cáp các chứng chỉ chuyên môn của ngành:
    -Cơ khí Hàng hải (1941)
    -Vô tuyến Hàng hải (1942)
    -Sĩ quan Hoa tiêu (1948)
    -Thuyền trưởng Thương thuyền (1949)
  4. ^ Tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Hải quân Nha Trang, sau này đều là sĩ quan cao cấp trong Quân chủng:
    -Ngành Chỉ huy:
    -Phó Đề đốc Trung tướng Chung Tấn Cang (SN 1926, nguyên Tư lệnh Hải quân 2 lần: lần thứ nhất từ 1963 đến 1965, lần thứ hai từ tháng 3 đến 4 năm 1975 và cũng là Tư lệnh cuối cùng)
    -Đề đốc Thiếu tướng Lâm Ngươn Tánh (SN 1928, nguyên Tư lệnh Hải quân từ 1974 đến tháng 3 năm 1975)
    -Hải quân Đại tá Lê Quang Mỹ (SN 1926, Thiếu úy Bộ binh chuyển ngành, xuất thân khóa 2 Võ bị Huế, nguyên Tư lệnh đầu tiên Quân chủng Hải quân từ 1955 đến 1957)
    -Hải quân Đại tá Trần Văn Phấn (SN 1926, nguyên Tư lệnh Hải quân từ 1965-1966)
    -Hải quân Đại tá Hồ Tấn Quyền (SN 1927, nguyên Tư lệnh Hải quân từ 1959 đến 1953)
    -Ngành Cơ khí:
    -Hải quân Đại tá Đoàn Ngọc Bích (SN 1928, chức vụ sau cùng: Phụ tá Tư lệnh Hải quân, Phụ trách Tiếp vận)
    -Hải quân Đại tá Nguyễn Văn Lịch (SN 1930, sau cùng: Chỉ huy trưởng Hải quân Công xưởng)
    -Hải quân Đại tá Lương Thanh Tùng (SN 1931, sau cùng: Tham mưu phó tại Bộ Tư lệnh Hải quân)
    -Xem bài: Quân chủng Hải quân VNCH
  5. ^ Thời điểm này Trung tâm Hải quân Nha Trang đang mới được tiếp quản từ cơ sở cũ của Hải quân Pháp nên phải xây dựng lại
  6. ^ Nguyên là Tổng tham mưu trưởng, tạm thời kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân

Tham kháo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.