Hồ Tấn Quyền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hồ Tấn Quyền
Commander Ho Tan Quyen.jpg

Hải quân Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Quân chủng Hải quân Việt Nam Cộng hòa trên Hạm đội Hải quân Hoa Kỳ năm 1959.
Tiểu sử
Sinh

1 tháng 11, 1927(1927-11-01)

Thừa Thiên, Việt Nam
Mất

1 tháng 11, 1963 (36 tuổi)

Thủ Đức Gia Định
Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1951-1963
Cấp bậc DaiTaHQVNCH.gif Hải quân Đại tá
Đơn vị Quân chủng Hải quân
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia
Flag of South Vietnam.svg Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Hồ Tấn Quyền (1927-1963), nguyên là một sĩ quan cao cấp Hải Quân của Quân đội Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Hải quân Đại tá. Ông xuất thân từ khóa đầu tiên tại trường Sĩ quan Hải quân do Chính phủ Quốc gia Việt Nam tiếp quản và thành lập từ cơ sở Hải quân của Pháp chuyển giao cho Hải quân Việt Nam đặt tại một tỉnh thuộc Duyên hải miền Trung Việt Nam. Ông là vị Tư lệnh thứ ba của Quân chủng Hải Quân từ tháng 8 năm 1959 cho đến khi bị sát hại vào ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Tiểu sử và binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 1 tháng 11 năm 1927 tại Hải Châu, Đà Nẵng, trong một gia đình Nho học. Nguyên quán ông ở Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1947, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại trường Quốc học Khải Định Huế với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II). Tháng 8 cùng năm, ông thi vào trường Hàng hải Thương thuyền. Tháng 12 năm 1948, ông tốt nghiệp sĩ quan Thuyền trưởng Hàng hải, phục vụ ở ngành này cho đến khi gia nhập quân đội.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1951, ông và một số sĩ quan Hàng hải được tuyển chọn gia nhập Hải quân Quân đội Quốc gia thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp. Theo học khóa 1 tại trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang, khai giảng ngày 1 tháng 1 năm 1952. Với tổng số 9 khóa sinh, tất cả đều được đưa xuống Hàng không Mẫu hạm Arromanches để huấn luyện chuyên nghiệp, sau đó luân chuyển qua các Chiến hạm Viễn Đông của Hải quân Pháp (vì Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang đang trong thời kỳ xây dựng). Đến tháng 7, cả khóa trở lại Nha Trang tiếp tục thụ huấn. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Hải quân Thiếu úy ngành chỉ huy (1). Ra trường, ông được điều động phục vụ trong Giang đoàn Xung phong. Ngày 1 tháng 10 năm 1953, ông được thăng cấp Hải quân Trung úy tại nhiệm. Tháng 7 năm 1954, ông được thăng cấp Hải quân Đại úy, nhận lãnh và làm Hạm trưởng đầu tiên Giang hạm HQ-535 do Hải quân Pháp chuyển giao cho Hải quân Việt Nam.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Quốc khánh Đệ Nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1956, sau một năm từ Quân đội Quốc gia chuyển sang Phục vụ Quân đội Việt nam Cộng hòa, ông được thăng cấp Hải quân Thiếu tá đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Hải khu Đà Nẵng. Thời điểm này ông cùng với Đại tá Linh Quang Viên là quan sát viên cuộc thao diễn Hải quân Liên phòng Đông Nam Á trên Hàng không Mẫu hạm Enterprise trong 15 ngày từ Singapore đến vịnh Subic Philippines. Đến giữa năm 1957, ông được cử làm Tham mưu trưởng trong Bộ Tư lệnh Hải quân do Thiếu tá Trần Văn Chơn làm Tư lệnh.

Thượng tuần tháng 8 năm 1959, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân thay thế Thiếu tá Trần Văn Chơn được cử đi du học trường Cao đẳng Hải chiến tại Hoa Kỳ. Ngày Quốc khánh tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp Hải quân Trung tá tại nhiệm. Ông được đánh giá là người có lòng nhiệt thành, tầm nhìn xa rộng và có công lao lớn trong việc xây dựng Quân chủng Hải quân. Đặc biệt ông rất trung thành với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Giữa năm 1960, ông có sáng kiến thành lập Lực lượng Hải thuyền để ngăn chận sự xâm nhập người và vũ khí của Quân đội miền Bắc.

Ngày 11 tháng 11 năm 1960, bộ ba sĩ quan gồm: Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Trung tá Vương Văn Đông và Đại úy Phan Lạc Tuyên cầm đầu cuộc đảo chính Chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông đích thân đem quân vào Dinh Độc Lập cứu nguy, khiến cho cuộc đảo chính vừa nổ ra đã bị thất bại. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, khi hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc dùng máy bay dội bom Dinh Độc Lập, ông chỉ đạo các Chiến hạm Hải quân, bắn đạn bay đan kín vùng trời, bảo vệ Tổng thống. Ngay sau đó ông được thăng cấp Hải quân Đại tá tại nhiệm. Ngày 3 tháng 1 năm 1963, ông được cử làm Chỉ huy trưởng cuộc hành quân "Sóng tình thương", bình định và an dân tại Năm Căn, Cà Mau.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, một số sĩ quan cao cấp trong quân đội đã tổ chức thành công cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông là một trong số rất ít sĩ quan chỉ huy thật sự trung thành với chế độ (2). Vào lúc 9 giờ 45 sáng ngày 1 tháng 1 đúng vào ngày sinh nhật của ông, ông bị sát hại dã man trên xa lộ Biên Hòa hướng đi lên Thủ Đức, chỉ vì ông không đồng thuận với nhóm tướng tá cầm đầu cuộc đảo chính. Cùng đi trên xe với ông có hai sĩ quan Hải quân dưới quyền là Thiếu tá Trương Học Lực, Chỉ huy trưởng Vùng 3 Sông ngòi và Đại úy Nguyễn Kim Hương Giang, Chỉ huy trưởng Giang đoàn 24 Xung phong kiêm Chỉ huy trưởng Đoàn Giang vận. Hai sĩ quan này được lệnh của các tướng cầm đầu cuộc đảo chính loại bỏ ông ra khỏi chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân nên đã lừa ông ra Thủ Đức và hạ sát ông tại rừng cao su. Vì nếu ông còn là Tư lệnh, ông sẽ chỉ huy Hải quân ứng cứu Tổng thống Diệm, với lòng trung thành của ông cộng với thực lực của Lưc lượng Hải quân lúc bấy giờ, có thể cuộc đảo chính sẽ đi đến chỗ thất bại. Ông mất khi mới có 36 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Lê Thị Bích Tùng - Ông bà có 7 người con gồm 6 gái, 1 trai:
  1. Hồ Tấn Bích Thuỷ (Giáo sư Pháp văn)
  2. Hồ Tấn Bích Tiên
  3. Hồ Tấn Bích Trà
  4. Hồ Tấn Bích Thư
  5. Hồ Tấn Bích Tuyền
  6. Hồ Tấn Bích Trang
  7. Hồ Tấn Phú Quốc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • (1) -Cùng tốt nghiệp với Đại tá Hồ Tấn Quyền ở khóa 1 Sĩ quan Hải quân Nha Trang. Tổng số 9 khóa sinh: 6 vị học ở ngành Chỉ huy, còn lại 3 vị học ngành Cơ khí. Cả 6 vị ngành Chỉ huy đều đã đảm nhiệm Chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân:
-Ngành Chỉ huy:
-Chung Tấn Cang (Sau là Phó Đô đốc Trung tướng. Hai lần làm Tư lệnh: Lần thứ nhất từ 1963-1965, lần thư hai từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1975)
-Trần Văn Chơn (Sau là Đề đốc Thiếu tướng. Tư lệnh Hải quân. Hai lần làm Tư lệnh: Lần thứ nhất từ 1957-1959, lần thứ hai từ 1966-1974)
-Lâm Ngươn Tánh (Sau là Đề đốc Thiếu tướng. Tư lệnh từ 1974-1975)
-Lê Quang Mỹ (Sau là Hải quân Đại tá, Tư lệnh đầu tiên từ 1955-1957)
-Trần văn Phấn (Sau là Hải quân Đại tá. Tư lệnh từ 1965-1966)
-Ngành Cơ khí:
-Đoàn Ngọc Bích (Sau là Hải quân Đại tá, Phụ tá Tiếp vận Tư lệnh Hải quân)
-Nguyễn Văn Lịch (Sau là Hải quân Đại tá, Chỉ huy trưởng Hải quân Công xưởng)
-Lương Thanh Tùng (Sau là Hải quân Đại tá, Tham mưu phó tại Bộ Tư lệnh Hải quân)
-Xem bài: Quân chủng Hải quân Việt Nam Cộng hòa
  • (2) -Biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963 xảy ra, ngoài Đại tá Hồ Tấn Quyền là một sĩ quan cao cấp trung thành với Tổng thống Diệm, còn một số sĩ quan cao cấp khác cũng đã điều động các đơn vị thuộc quyền chỉ huy của mình để về ứng cứu Tổng thống, nhưng đã bị phe đảo chính tìm đủ mọi cách để vô hiệu. Sau này các sĩ quan có tên sau đây người thì bị sát hại, người bị cho giải ngũ vĩnh viễn hoặc bị bất khiển dụng một thời gian:
-Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh Quân đoàn IV và Vùng 4 Chiến thuật.
-Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt.
-Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù.
-Đại tá Bùi Dinh, Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ binh.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trang 123.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Cái Chết Của Hải Quân Ðại Tá Hồ Tấn Quyền

Lời kể của Bà quả phụ Ðại Tá Hồ Tấn Quyền