Lâm Ngươn Tánh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lâm Ngươn Tánh
Đại Úy Lục quân Hoa Kỳ James Văn Thạch va Đề đốc Hải quân Việt Nam Cộng hòa Lâm Ngươn Tánh

Tiểu sử
Sinh

1928

Sa Đéc, Đông Dương thuộc Pháp
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1952-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Đề đốc
Đơn vị Flag of South Vietnam Navy.png Hải quân Việt Nam Cộng hòa
Chỉ huy Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Khen thưởng Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương

Lâm Ngươn Tánh (1928-), nguyên là một tướng lĩnh Hải quân trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Đề đốc Thiếu tướng. Xuất thân từ khoá đầu tiên của trường Hải quân Việt Nam. Ông đã tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy then chốt trong Quân chủng. Sau cùng là một Tư lệnh nhiều năng lực của Quân chủng Hải quân. *Năm 1974, ông đã trực tiếp chỉ huy cuộc Hải chiến Hoàng Sa chống lại Trung Quốc trên cương vị Phó Tư lệnh Hải quân kiêm Tư lệnh chiến dịch).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 18-10-1928 tại Lai Vung Sa Đéc, miền tây Nam phần trong một gia đình khá giả. Ông đã tốt nghiệp chương trình Trung học phổ thông Đệ nhị cấp tại Cần Thơ. Năm 1948: Ông trúng tuyển và theo học Trường Hàng hải Thương thuyền tại Sài Gòn. Sau một năm, tốt nghiệp cấp Thuyền trưởng và phục vụ ngành Hàng hải.

Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1952: Ông chính thức nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia. Được chuyển từ ngành Hàng hải qua Hải quân. Theo học khoá 1 Trường Sĩ quan Hải quân Quốc gia Việt Nam. Tốt nghiệp với cấp bậc Hải quân Thiếu úy ngành chỉ huy.

Năm 1953: Được thăng cấp Hải quân Trung úy và được cử làm Hạm trưởng đầu tiên Giang vận hạm HQ-534.

Năm 1954: Ông được thăng cấp Hải quân Đại úy, chuyển sang làm Hạm trưởng Giang pháo hạm HQ-330. Sau dó. ông được cử làm Chỉ huy trưởng Giang lực miền Đông trong thời kỳ đầu của Đệ nhất Cộng hòa, tham gia các chiến dịch miền Tây châu thổ sông Cửu Long, Rừng Sát và Đồng Tháp Mười.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955: Ông được cử làm Hạm trưởng Trợ chiến hạm HQ-226

Năm 1956: Ông được thăng cấp Hải quân Thiếu tá, làm Hạm trưởng Hộ tống hạm Đống Đa HQ-03. Cùng năm ông được giữ chức Chỉ huy trưởng Hải lực, trách nhiệm toàn bộ Hạm đội Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1957: Ông được bổ nhiệm chức vụ Tham mưu trưởng trong Bộ tư lệnh Hải quân (lần thứ nhất). thời gian này, ông được cử đi du hành quan sát các Tổ chức Hành quân, Huấn luyện và Quản trị của Hải quân Hoa Kỳ.

Năm 1958: Du học và tốt nghiệp khoá hậu sĩ quan Hải quân tại Monterey, California, Hoa Kỳ và các khoá phòng tai nạn, Huấn luyện viên và Hành quân đổ bộ.

Năm 1959: Ông được giữ chức Chỉ huy trưởng Hải trấn, trách nhiệm về các cơ sở Hải quân trên bộ, các Quân trường và Trung tâm Huấn luyện Sĩ quan Hải quân Nha Trang.

Năm 1960: Tốt nghiệp khoá Quản trị và Điều hành Hải quân Công xưởng tai Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ. Mãn khoá về nước, ông được thăng cấp Hải quân Trung tá và được cử giữ chức Giám đốc Hải quân Công xưởng tại Sài Gòn.

Năm 1965: Du học và tốt nghiệp khoá Cao đẳng Hải chiến (Naval War College) tại Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ. Vè nước, ông được cử làm Tham mưu trưởng Hải quân (lần thứ hai). Cung nam, ông được thăng cấp Hải quân Đại tá, nhận chức phụ tá Hải quân cho Tham mưu phó Hành quân của Bộ Tổng tham mưu.

Năm 1967: Tháng 5, ông là sáng lập viên và là Chỉ huy trưởng đầu tiên trường Đại học Chiến tranh Chính trị tại Đà Lạt.

  • Thời điểm này, các sĩ quan Tham mưu trong Bộ chỉ huy gồm có:
  1. Chỉ huy phó: Đại tá Đặng Thiện Ngôn (sinh 1928 tại Tây Ninh, khoá 1 Thủ Đức)
  2. Tham mưu trưởng: Đại tá Đỗ Văn Sáu (sinh 1928 tại Sài Gòn, khoá 5 Đà Lạt)

Năm 1968-1969: Chủ toạ lễ khai giảng khoá Nguyễn Trãi 2 và lễ tốt nghiệp khoá Nguyễn Trãi 1 Đại học Chiến tranh Chính trị.

Năm 1970: Bàn giao Trường Đại học lại cho Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh (sinh năm 1922 tại Hà Nam, khoá 4 Đà Lạt). Tháng 8, trở về Quân chủng giữ chức Tư lệnh phó Hải quân. Tháng 11, vinh thăng phó Đề đốc Chuẩn tướng tại nhiệm.

Năm 1971: Tháng 6, ông được đề cử làm Chủ tịch Hải quân Bài trừ ma tuý.

Năm 1973: Được cử đi du học khoá Quản trị Quốc phòng tại Monterey, California, Hoa Kỳ.

Năm 1974: Tháng 3, ông được vinh thăng Đề đốc Thiếu tướng tại nhiệm. Tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân thay thế Đề đốc Thiếu tướng Trần Văn Chơn (giải ngũ vì lý do đáo hạn tuổi).

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 24/3, bàn giao chức Tư lệnh lại cho phó Đô đốc Trung tướng Chung Tấn Cang (nguyên Tư lệnh Biệt khu Thủ đô). Đầu tháng 4, phụ tá Quốc vụ khanh đặc trách tiếp đón đồng bào di cư từ miền Trung.

Chiều ngày 29/4, di tản ra khơi trên Khu trục hạm Trần Hưng Đạo HQ-1 do Hải quân Trung tá Nguyễn Địch Hùng (sinh năm 1934 tại Hà Nội, khoá 3 trường Võ bị Hải quân Brest, Pháp).

Sau ngày 30/4, định cư tại Federicburg, Virginia, Hoa Kỳ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bổ sung theo:
  • Nguồn: "Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa". Trần Ngọc Thống & Hồ Đắc Huân 2011