Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Quân đội Trung Hoa Dân Quốc)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trung Hoa Dân Quốc Quốc Quân
中華民國國軍
Zhōnghuá Mínguó Guójūn
ROC Navy PFG3-1202 and S-70C.jpg
ROCS Kang Ding (FFG-1202) đang tuần tra eo biển Đài Loan cùng với Sikorsky S-70C Seahawk.
Các nhánh phục vụ Flag of the Republic of China Army.svg Lục quân

Flag of the Republic of China.svg Hải quân

Flag of the Republic of China Air Force.svg Không quân
Flag of the Republic of China Military Police.svg Quân cảnh

Sở chỉ huy Đài Bắc, Đài Loan
Lãnh đạo
Tổng tư lệnh Tổng thống Thái Anh Văn
Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Thế Khoan
Tham mưu tổng trưởng Lý Hỉ Minh
Nhân sự
Tuổi nhập ngũ 19 - 40 tuổi
Cưỡng bách tòng quân 1 năm nghĩa vụ quân sự bắt buộc cho nam giới tuổi từ 19 đến 40
Sẵn cho
nghĩa vụ quân sự
5.883.828, tuổi 15-40 (2005 ước)
Đủ tiêu chuẩn cho
nghĩa vụ quân sự
4.749.537, tuổi 15-40 (2005 ước)
Đạt đến tuổi
quân sự hàng năm
174.173 (2005 ước)
Số quân tại ngũ 290.000 ([[hạng 16]])
Số quân dự phòng 1.675.000
Phí tổn
Ngân sách 10.5 tỉ USD (2008 ước) (hạng 20)
Phần trăm GDP 2,5 (2008 ước)
Công nghiệp
Nhà cung cấp trong nước Công ty Hữu hạn Cổ phần Hàng không Hán Tường, Viện Nghiên cứu Khoa học Trung Sơn, Tập đoàn CSBC, Xưởng 205
Nhà cung cấp nước ngoài  Hoa Kỳ
 Pháp
 Hà Lan[1]
 Israel
Cộng hòa Nam Phi Nam Phi
 Tây Ban Nha
 Đức
 Ý

Quân đội Quốc gia Trung Hoa Dân Quốc (phồn thể: 中華民國國軍; bính âm: Zhōnghuá Mínguó Guójūn) hay Quân đội Trung Hoa Dân Quốc, hoặc Quân đội Đài Loan trong một số tài liệu tiếng Việt, là lực lượng vũ trang của Trung Hoa Dân Quốc, bao gồm các nhánh Lục quân, Hải quân (bao gồm Thủy quân lục chiến), Không quânQuân Cảnh Cho đến tận những năm 1970, nhiệm vụ then chốt của quân đội Đài Loan là giành lại Trung Quốc đại lục từ tay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông qua kế hoạch Quốc Quang.[2] Tuy nhiên ngày nay nhiệm vụ ưu tiên của họ là phòng thủ các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Kim MônMã Tổ trước nguy cơ bị quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa xâm phạm[3][4] khi đang có cuộc tranh cãi về vị thế chính trị của Đài Loan. Trong năm tài chính 2003 Đài Loan đã chi 16,8% ngân sách trung ương cho quân đội.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân là Quốc dân Cách mạng quân, lực lượng này đã được đổi tên thành Trung Hoa Dân Quốc quốc quân vào năm 1947 để phù hợp với hiến pháp.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Mua sắm và phát triển vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Đài Loan được trang bị các vũ khí chủ yếu do Hoa Kỳ cung cấp, ví dụ như 150 máy bay chiến đấu F-16A/B Block-20 MLU, 6 máy bay E-2 Hawkeye, 63 trực thăng chiến đấu Bell AH-1 Cobra, 39 trực thăng do thám Bell OH-58 Kiowa, 3 khẩu đội pháo MIM-104 Patriot và được chuyển giao công nghệ chế tạo tàu frigate lớp Oliver Hazard Perry.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xem tại tàu ngầm lớp Zwaardvis do Hà Lan đóng
  2. ^ “Overview - Taiwan Military Agencies”. globalsecurity.org. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. 
  3. ^ “2004 National Defense White Paper” (PDF). ROC Ministry of National Defense. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. [liên kết hỏng]
  4. ^ “2004 National Defense Report” (PDF). ROC Ministry of National Defense. 2004. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]