Không quân Nhân dân Triều Tiên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Không quân Triều Tiên)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Quân chủng Phòng không Không quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên
조선인민군 항공 및 반항공군
Chosŏn inmin'gun hangkong mit banhangkonggun
Roundel of North Korea.svg
KPAAF roundel
Thành lập20 tháng 8, 1947; 72 năm trước
Quốc gia Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Phục vụ Đảng Lao động Triều Tiên, trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của Kim Jong-un[1]
Phân loạiKhông quân
Chức năngAerial warfare
Quy mô110,000 người
940 máy bay[2]
Bộ phận củaQuân đội Nhân dân Triều Tiên
Bộ chỉ huyBình Nhưỡng, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Tên khác"Không quân Nhân dân Triều Tiên", "Không quân Bắc Triều Tiên", "KPAF", "KPAAF", "NKAF"
Lễ kỷ niệm20 tháng 8
Tham chiếnChiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam[3]
Các tư lệnh
Tổng tư lệnhThượng tướng Ch'oe Yong-ho[4]
Chỉ huy
nổi tiếng
Nguyên soái quân đội Ch'oe Kwang
Phó nguyên soái Cho Myong-rok
Huy hiệu
FlagFlag of the Korean People's Army Air Force.svg
Phi cơ sử dụng
Cường kíchSu-7, Q-5, Su-25, Yak-18
Máy bay ném bomIl-28
Tiêm kíchF-7B, F-5, F-6, MiG-21, MiG-23, MiG-29
Huấn luyệnL-39, Shenyang FT-2
Vận tảiIL-76, An-24, An-2

Quân chủng Phòng không Không quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên (Chosŏn'gŭl: 조선인민군 항공 및 반항공군; Hanja: 朝鮮人民軍 航空 및 反航空軍; Chosŏn inmin'gun hangkong mit banhangkonggun) là nhánh quân chủng phòng không không quân của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, đảm nhận nhiệm vụ chính là bảo vệ không phận lãnh thổ Bắc Triều Tiên.[5] Đây là nhánh quân chủng lớn thứ hai chỉ sau Lục quân của Quân đội Nhân dân Triều Tiên, với quân số ước tính 110.000 người.[6] Ngoài ra, lực lượng này còn có hơn 400.000 nhân sự dự bị. Các tài liệu tiếng Anh thường gọi tắt lực lượng này là KPAAF (Korean People's Army Air and Anti-Air Force), KPAF (Korean People's Air Force) hoặc NKAF (North Korean Air Force).

Theo các ước đoán, hiện tại, lực lượng không quân chiến đấu của Triều Tiên có khoảng 940 máy bay các loại khác nhau, chủ yếu thuộc thế hệ cũ, xuất xứ từ Liên XôTrung Quốc. Ngày truyền thống của lực lượng ngày là ngày 20 tháng 8 năm 1947, là ngày thành lập của Đội Hàng không Triều Tiên, tổ chức tiền thân của Không quân Nhân dân Triều Tiên.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi kiểm soát vùng lãnh thổ Bắc Triều Tiên, Liên Xô đã hỗ trợ cho cựu sĩ quan Hồng quân gốc Triều Tiên Kim jong-Il cùng với các đồng chí thân cận xây dựng thế lực nhằm thành lập một nhà nước Triều Tiên nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô. Một trong những hoạt động đầu tiên là việc thành lập một đội hàng không tại Sinuiju vào tháng 9 năm 1945, theo mô hình của tổ chức OSOAVIAKhIM của Liên Xô[7] để đào tạo nhân sự cho lực lượng quân đội Triều Tiên trong tương lai, đặc biệt là hàng không. Từ 50 thành viên đầu tiên, sử dụng loại máy bay Tachikawa Ki-9 để tập luyện; một loạt các khóa huấn luyện hàng không bán quân sự được tổ chức, đến tháng 10 năm 1946, đã tuyển chọn được 300 người để đưa sang huấn luyện tại Liên Xô. Ngày 20 tháng 8 năm 1947, Đội Hàng không Triều Tiên được thành lập, trên cơ sở các nhân sự của các đội hàng không trên lãnh thổ Bắc Triều Tiên.

Ngày 8 tháng 2 năm 1948, Quân đội Nhân dân Triều Tiên được chính thức thành lập. Ngày 18 tháng 9 năm 1948, Đội Hàng không Triều Tiên được tổ chức thành Liên đội phi hành số 25 thuộc Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Đến ngày 16 tháng 8 năm 1949, Liên đội phi hành 25 được đổi thành Sư đoàn phi hành số 11, gồm các liên đội cường kích, tiêm kích, huấn luyện và đại đội công binh, trang bị các máy bay Yak-9, La-7, Il-10.

Máy bay Il-10 của Bắc Triều Tiên bị bỏ lại tại Sân bay Kimpo, Hàn Quốc ngày 21 tháng 5 năm 1950.

Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, sau những chiến thắng ban đầu, Quân đội Nhân dân Triều Tiên nhanh chóng thất bại trước liên quân do Hoa Kỳ lãnh đạo. Lực lượng không quân non trẻ của Triều Tiên nhanh chóng tan tát trước các phi công Mỹ đầy kinh nghiệm. Lãnh đạo Triều Tiên Kim jong-Il buộc phải nhờ đến sự giúp đỡ mà thực chất là tham chiến trực tiếp của Trung Quốc ở trên bộ và Liên Xô ở trên không. Tháng 1 năm 1951, Bộ tư lệnh Không quân Nhân dân Triều Tiên được thành lập, đến ngày 15 tháng 3 năm 1951, một bộ tư lệnh liên hợp không quân Trung Quốc - Triều Tiên được thành lập để chỉ huy chung (thực tế là do Trung Quốc chỉ huy và trực tiếp tham chiến). Cuối năm 1951, lực lượng không quân Triều Tiên đã phát triển thành 4 sư đoàn (1, 2, 10, 11), sang năm 1952 mở rộng thêm 2 sư đoàn (3, 21). Trên thực tế, hầu như toàn bộ lực lượng phi công đều là người Trung Quốc hoặc Liên Xô.

Sau chiến tranh Triều Tiên, lực lượng không quân Triều Tiên được xây dựng lại, thường xuyên triển khai ở nước ngoài để giúp đỡ các đồng minh khối Xã hội chủ nghĩa, như ở Bắc Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam hoặc Nam Ai Cập trong Chiến tranh Yom Kippur.[8]

Sau khi khối Đông Âu sụp đổ và Liên Xô tan rã, Bắc Triều Tiên mất đi nguồn viện trợ to lớn và rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Dù nỗ lực tăng cường đầu tư quốc phòng với chính sách Tiên quân, do áp lực cấm vận kinh tế và quân sự, các trang thiết bị hiện đại của Quân đội Nhân dân Triều Tiên ngày càng trở nên lạc hậu và suy giảm cả về chất lượng lẫn số lượng. Khả năng phòng vệ của Bắc Triều Tiên trước năng lực quân sự to lớn của liên quân Mỹ - Hàn Quốc chỉ còn có thể dựa vào vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học và số lượng binh sĩ đông đảo.

Là một nhánh quân chủng kỹ thuật cao, lực lượng Phòng không Không quân Nhân dân Triều Tiên chịu tác động nặng nề của sự suy giảm kinh tế. Dù được ưu tiên đầu tư cao hơn Hải quân và Lục quân, nhưng thực tế là Không quân Bắc Triều Tiên vẫn thiếu hụt các trang thiết bị hiện đại, hầu hết các máy bay và tên lửa không đối không đều đã lỗi thời. Các phi công có rất ít thời gian huấn luyện bay, hầu hết chỉ có 7 giờ bay mỗi năm. Dù thời gian gần đây, do tình hình kinh tế đã dần được cải thiện, số giờ bay trung bình của các phi công Bắc Triều Tiên đã lên được 45-50 giờ, nhưng vẫn là rất thấp so với mức tiêu chuẩn 150 giờ huấn luyện bay để trở thành phi công tập sự. Con số này rất chênh lệch so với 180 giờ huấn luyện bay đơn của các phi công Trung Quốc và hơn 200 giờ huấn luyện bay của các phi công Mỹ và Nga. Việc đào tạo mô phỏng bay cũng thiếu các thiết bị chuyên nghiệp làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác đào tạo. Để bù lại, lực lượng Phòng không được tăng cường với một mạng lưới radar phòng không rất lớn và nhiều súng phòng không và căn cứ tên lửa. Những thiết bị này được liên kết với 25 sân bay chính thức và 26 sân bay sơ tán và 18 tuyến đường cao tốc có thể sử dụng làm đường băng.

Tổ chức biên chế[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân đặt tại Bình Nhưỡng, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Theo tổ chức của Quân đội Nhân dân Triều Tiên, Tư lệnh Không quân tương đương cấp Tư lệnh Quân đoàn Lục quân. Tuy nhiên, số lượng tướng lĩnh xuất thân từ Phòng không Không quân được đề đạt lên các chức vụ cao cấp không phải là ít, chẳng hạn như Bộ trưởng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Nguyên soái Ch'oe Kwang, hay Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị, Phó nguyên soái Jo Myong-rok, đều xuất thân từ lực lượng này.

Tư lệnh hiện tại là Thượng tướng Ch'oe Yong-ho, đảm nhiệm chức vụ từ năm 2014.[9]

Dưới cấp Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân là các Sư đoàn Không quân phụ trách theo địa bàn không phận. Biên chế cơ sở tác chiến là các Trung đoàn Không quân. Mỗi trung đoàn gồm có các đơn vị hỗ trợ với biên chế tiểu đoàn (tiểu đoàn hậu cần, tiểu đoàn kỹ thuật...) và các nhóm phi công chiến đấu với biên chế phi đội. Khi tác chiến phối hợp trên không, các phi công thường triển khai đội hình biên đội, tùy theo như cầu tác chiến, phổ biến nhất là biên đội 2 máy bay, số rất hiếm là 3 hoặc 4 máy bay.

Các căn cứ không quân chính[10][11]
Bộ chỉ huy Không phận phụ trách Sư đoàn Trung đoàn Căn cứ chính Máy bay trang bị
Bộ Tư lệnh Quân chủng
(Bình Nhưỡng)
Duyên hải phía Tây và Bình Nhưỡng Sư đoàn Không chiến số 1
(Kaechon)
Trung đoàn ném bom 24 Uiju (Pyongan Bắc) H-5/Il-28, MiG-21PFM
Trung đoàn tiêm kích bom 49 Panghyon (Pyongan Bắc) J-5/MiG-17F, MiG-21PFM, Mi-2
Trung đoàn tiêm kích 35 Kaechon (Pyongan Nam) J-6/MiG-19
Trung đoàn tiêm kích 35 Onchon (Pyongan Nam)
Trung đoàn cường kích 55 Sunchon (Pyongan Nam) Su-25K
Trung đoàn tiêm kích 57 MiG-29/UB
Trung đoàn tiêm kích 58 Pukchang (Pyongan Nam) MiG-23ML/UM
Trung đoàn tiêm kích bom 60 MiG-21Bis
Sư đoàn Vận tải số 5
(Taechon)
Trung đoàn Vận tải ?? Taechon (Pyongan Bắc) Y-5/An-2
Trung đoàn Vận tải ?? Kwaksan (Pyongan Bắc)
Trung đoàn Trực thăng ?? Sonchon (Pyongan Bắc) Mi-2
Trung đoàn Trực thăng 65 Pukchang Đông (Pyongan Nam) Mi-8T, Mi-26
Trung đoàn Trực thăng 64 MD-500
Trung đoàn Ném bom ?? Kangdong (Pyongyang) CJ-6/BT-6
Không đoàn Vận tải Đặc biệt (Air Koryo) Sunan (Pyongyang) Tu-134B/Tu-154B-2/Il-62M/Il-76MD/Il-18/An-24/An-148
Không đoàn chuyên cơ Mirim (Pyongyang) Mi-17
Khu vực DMZ Sư đoàn Không chiến số 3
(Hwangju)
Bộ Tư lệnh phòng không Chunghwa (Hwanghae Bắc)
Trung đoàn tiêm kích bom 32 Nuchon-ni (Hwanghae Bắc) J-5/MiG-17, MiG-21PFM, Mi-2
Trung đoàn tiêm kích 50 Hwangju (Hwanghae Bắc) MiG-21PFM
Trung đoàn cường kích 86 Koksan (Hwanghae Bắc) Q-5A
Trung đoàn tiêm kích bom 4 Taetan (Hwanghae Nam) J-5/MiG-17F, MiG-21PFM, Mi-2
Trung đoàn tiêm kích bom 33 Kwail (Hwanghae Nam) J-5/MiG-17F
Trung đoàn tiêm kích bom 11
Trung đoàn trực thăng tấn công 63 Ayang-ni (Hwanghae Nam) Mi-24D
Duyên hải phía Đông Sư đoàn Không chiến số 2
(Toksan)
Trung đoàn tiêm kích 56 Toksan (Hamgyong Nam) MiG-21PF/J-7/F-7
Trung đoàn ném bom 25 Changjin (Hamgyong Nam) Il-28/H-5
Trung đoàn tiêm kích ?? MiG-21PFM
Trung đoàn tiêm kích 46 Wonsan (Kangwon) MiG-21PFM, F-5
Trung đoàn trực thăng 66 Mi-14PL
Trung đoàn tiêm kích 71 Kuum-ni (Kangwon) MiG-21PFM
Trung đoàn tiêm kích 72 Hwangsuwon (Ryanggang)
Sư đoàn Vận tải số 6
(Sondok)
Trung đoàn vận tải ?? Sondok (Hamgyong Nam) Y-5/An-2
Trung đoàn vận tải ?? Yonpo (Hamgyong Nam)
Trung đoàn vận tải ?? Manpo (Chagang)
Trung đoàn vận tải ?? Kuktong (Hamgyong Bắc)
Không đoàn vận tải Kowon (Hamgyong Nam) Z-5/Mi-4/Mi-8/Mi-17
Pakhon (??) Z-5/Mi-4/Mi-8/Mi-17/Mi-2
Viễn Đông Bắc Sư đoàn Huấn luyện số 8
(Orang)
Trung đoàn huấn luyện ?? Samjiyon (Ryanggang) F-5A
Không rõ Hyesan (Ryanggang) Không rõ
Trung đoàn trực thăng huấn luyện ?? Kilchu (Hamgyong Bắc) Mi-2
Trung đoàn tiêm kích huấn luyện 41 Orang (Hamgyong Bắc) MiG-15UTI/J-2/MiG-15
Học viện Không quân Kimchaek Sungam-Chonhjin (Hamgyong Bắc) BT-6
Trường Sĩ quan Phi công Kyongsong (Hamgyong Bắc)
Không đoàn vận tải Sungam (Hamgyong Bắc) Y-5/An-2
Không rõ Kang Da Ri (Kangwon) Không rõ
Không rõ Tongchŏn (Kangwon) MiG-21PF/J-7/F-7
Không rõ Inhung (Chungcheong Nam) Mi-8/Ka-27/Ka-28/Ka-29/Ka-32
Không rõ Hamhŭng (Hamgyong Nam) MiG-21PF/J-7/F-7
Không rõ Riwon Bắc (Hamgyong Nam) MiG-15UTI/J-2/MiG-15

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay
Một chiếc Shenyang J-6 trưng bày mang phù hiệu Không quân Nhân dân Triều Tiên
Ảnh chụp một chiếc MiG-29 đang bay của không quân Bắc Triều Tiên năm 2003
Một chiếc Lim-5 (phiên bản MiG-17 do Ba Lan sản xuất) cũ của không quân Indonesia với phù hiệu không quân Bắc Triều Tiên được sưu tầm ở Mỹ.
Máy bay Xuất xứ Phân loại Số lượng hoạt động ước tính Ghi chú
Máy bay chiến đấu
MiG-29 Cờ Nga Nga tiêm kích đa năng 35[12] aircraft were illegally obtained by circumventing U.S. export controls[13]
MiG-21 Cờ Liên Xô Liên Xô tiêm kích 26[12]
F-7  Trung Quốc tiêm kích 120[12] biến thể MiG-21 Trung Quốc
F-6  Trung Quốc tiêm kích 97[12] biến thể MiG-19 Trung Quốc
F-5  Trung Quốc tiêm kích 106[12] biến thể MiG-17 Trung Quốc
MiG-23 Cờ Liên Xô Liên Xô tiêm kích bom 56[12]
Su-7 Cờ Liên Xô Liên Xô tiêm kích bom 18[12]
Su-25 Cờ Nga Nga cường kích 34[12]
A-5  Trung Quốc cường kích ??
H-5  Trung Quốc máy bay ném bom hạng trung 80[12] biến thể Il-28 Trung Quốc
Máy bay vận tải quân sự
PAC P-750 New Zealand New Zealand vận tải 3[12] illegally exported via China[14]
An-24 Cờ Liên Xô Liên Xô Vận tải hạng nặng 1[12]
An-2 Cờ Liên Xô Liên Xô Vận tải hạng nhẹ ??
Máy bay trực thăng
MD 500 Hoa Kỳ Mỹ đa năng hạng nhẹ 84[12] aircraft were illegally obtained by circumventing U.S. export controls[15]
PZL Mi-2 Ba Lan Ba Lan đa năng 47[12]
Mi-8 Cờ Liên Xô Liên Xô đa năng 41[12]
Mi-14 Cờ Liên Xô Liên Xô ASW / SAR 8[12]
Mi-25 Cờ Nga Nga tấn công 20[12]
Mi-26 Cờ Nga Nga vận tải 4[12]
Máy bay huấn luyện
Yakovlev Yak-18 Cờ Liên Xô Liên Xô huấn luyện cơ bản 2[16]
FT-5  Trung Quốc huấn luyện phản lực 135[12]
Shenyang FT-2  Trung Quốc huấn luyện phản lực 30[12] biến thể MiG-15UTI Trung Quốc
UAV
Banghyeon  CHDCND Triều Tiên trinh sát ? Biến thể UAV D-4 do Bắc Triều Tiên sản xuất
Vega Shmel Cờ Nga Nga trinh sát 10[17]
Sky-09  Trung Quốc trinh sát 1[18]
MQM-107 Hoa Kỳ Mỹ 1[19] Mua lại từ một quốc gia Trung Đông, có lẽ Syria, để phát triển UAV dựa trên nền tảng công nghệ.[20]
Tu-143 Cờ Liên Xô Liên Xô 1[21]
Panghyon-1  CHDCND Triều Tiên ?[22]
Panghyon-2  CHDCND Triều Tiên ?[23]
Tên lửa hàng không
Tên lửa R-23 cùng loại với loại Không quân Nhân dân Triều Tiên sử dụng
Tên lửa Xuất xứ Phân loại Số lượng ước tính Ghi chú
Tên lửa không đối không
R-27  Nga tên lửa đối không tầm trung 60[24]
R-23  Liên Xô tên lửa đối không tầm trung 250 [24]
R-73  Nga tên lửa đối không tầm ngắn
R-60  Liên Xô tên lửa đối không tầm ngắn 190 [24]
K-13  Liên Xô tên lửa đối không tầm ngắn 1050 [24]
Tên lửa không đối đất
Kh-35  Nga Tên lửa không đối đất
KN-09  CHDCND Triều Tiên Tên lửa không đối đất Biến thể Kh-35 do Bắc Triều Tiên sản xuất
Kh-28 Liên Xô Liên Xô Tên lửa không đối đất
Kh-23 Liên Xô Liên Xô Tên lửa không đối đất
Kh-25 Liên Xô Liên Xô Tên lửa không đối đất

Phòng không[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Triều tiên đã triển khai một loạt của SAMAAA hệ thống khác nhau, từ lâu đời nhất liên Xô thiết kế để có điện thoại di động và ví dụ hiện đại. Nhất SAM hệ thống được thiết kế của liên Xô dòng dõi với một số địa phương, sản xuất thiết kế, trong khi AA pháo được từ cả hai liên Xô và nhà cung cấp địa phương. Những hệ thống đang được sử dụng rộng rãi, với hơn 15.000 đơn vị trường theo một năm 1995 lầu năm góc thông báo trên đất nước này.[cần dẫn nguồn] Bắc Triều tiên có một trong những rộng lớn nhất tích hệ thống phòng không (IADS) trên thế giới, với nhiều người trong số các radar và định vị trên bệ phóng kiên cố nâng các nền tảng của nó máy bay vị trí trong cứng boongke và cả hai ngầm căn cứ không quân, và một số cấp của bảo hiểm cho tất cả các thị trấn.[25] Các ngoài của KNOT-06 SAM, đó là chuyến bay-thử nghiệm trong mùa xuân năm 2011, và một mô hình địa phương của các Pechora 2 (Nâng cấp SA-3), bố tại một 2012 cuộc diễu hành quân sự đáng chú ý là có mở rộng các hệ thống khả năng. Theo yểm trợ báo quốc Phòng hàng Tuần, hiện có trên 2014 hai khác nhau nhiều hơn cập hệ thống: the KNOT-06/Ponghae-5 đã có lẽ liên quan đến các Trung quốc HQ-16 hệ thống, trong khi Ponghae-6 có thể liên quan với HQ-9 hoặc nga S-300.[26]

Name Origin Type Quantity Notes
SAM
KN-06  CHDCND Triều Tiên LR-SAM
S-200  Liên Xô SAM system 75 missiles
Buk  Nga MR SAM [27]
Kub  Liên Xô MR SAM
S-125 Neva/Pechora  Nga SAM system 300 missiles
2K11 Krug  Liên Xô SAM system
S-75 Dvina  Liên Xô SAM system 1950 missiles
S-25 Berkut  Liên Xô SAM system
SA-13  Liên Xô SAM system Upgraded with two four-missile pods.[28]
SA-7  Liên Xô MANPADS 4000 units Produced locally
SA-14  Liên Xô MANPADS Produced locally
SA-16 9K310 Igla-1  Nga MANPADS Produced locally
Vũ khí phòng không
ZSU-57-2  Liên Xô pháo tự hành 250 Pháo phòng không tự hành
ZSU-23-4  Liên Xô pháo tự hành 248 Pháo phòng không tự hành
Radars
P-18 radar  Liên Xô early warning radar

Năng lực tác chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Các KPAF điều hành một loạt các máy bay chiến đấu và tấn công máy bay. Bắc Triều tiên là một trong số ít nước vẫn điều hành đã lỗi thời MiG-17MiG-19 máy bay chiến đấu, nhưng nó hoạt động hiện đại hơn và có khả năng khá MiG-23MiG-29 máy bay chiến đấu. Các KPAF nhất của rất nhiều máy bay chiến đấu là MiG-21, trong đó có phần quá cũ nhưng vẫn còn một kẻ thù xứng đáng trong không khí để chiến đấu, nếu duy trì đúng cách và phi hành đoàn giàu kinh nghiệm phi công. Đánh giá của CHÚNG tôi, các nhà phân tích GlobalSecurity.org báo cáo rằng air force "có một biên khả năng để bảo vệ không phận Bắc hàn và một khả năng giới hạn để tiến hành các hoạt động không chống lại Hàn quốc."[29] Chưa, Bắc Triều tiên, điều hành một loạt các phòng không, thiết bị, từ tầm ngắn những hệ và đơn / đôi-4, súng máy, để long-range SA-5 Hang SAM hệ thống và lớn, tầm cỡ AA súng pháo. Triều tiên có một trong không khí dày đặc nhất vệ mạng trên thế giới. Il-28 Beagle máy bay cung cấp một vừa phạm vi tấn công nền tảng, mặc dù là thường lỗi thời. Một phần lớn của đất tấn công máy bay được lưu giữ trong thành lũy kiên cố nhà chứa máy bay, một số có khả năng chịu một vụ nổ hạt nhân. Tàng hình dung được biết đến trong KPAF qua nghiên cứu trong radar-hấp thụ sơn và kho lừa dối.[30]

Từ kinh nghiệm thất bại nặng nề khi đối đầu với lực lượng Không quân Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên, nhiệm vụ tác chiến cơ bản của lực lượng Phòng không Không quân Nhân dân Triều Tiên được xác định chủ yếu là để bảo vệ không phận lãnh thổ Bắc Triều Tiên, thay cho phương thức tác chiến hỗ trợ Lục quân và tấn công các mục tiêu quân sự mặt đất. Sự thay đổi này phụ thuộc nặng vào máy bay chiến đấu, tên lửa đất đối khôngvũ khí phòng không. Bằng cách này, Bắc Triều Tiên cố gắng để duy trì năng lực quân sự tương đương với Hàn Quốc bằng cách sử dụng không quân như một lực lượng ngăn chặn, giống như của tên lửa đạn đạo, thay vì cố gắng để duy trì một công nghệ tương đương trong các loại máy bay chiến đấu hiện đại. Điều này có vẻ được xác nhận bởi sự tái biên chế của 120 máy bay, chủ yếu là các máy bay ném bom và vận tải lỗi thời, trang bị vào 4 căn cứ tiền phương gần DMZ, bên cạnh số lượng 440 máy bay chiến đấu hiện đại hơn. Nhiệm vụ tấn công được chuyển giao cho các vũ khí hóa học và vũ khí hạt nhân, nhằm mục đích răn đe trước các dự định tấn công từ phía Nam.

Số lượng các hàng năm, bay giờ (KIM) mỗi phi công là, như hầu hết mọi khía cạnh khác của KPAF, rất khó để ước tính. Hầu hết các nguồn trên thể kiêng cho số khó khăn, nhưng tất cả chúng ước tính trung bình thường niên bay giờ mỗi phi công như là 'thấp' 'rất thấp'. Số lượng các hàng năm, bay giờ tất nhiên là rất quan trọng trong ước tính cá nhân kỹ năng và kinh nghiệm của các phi công của không lực: nhiều năm, bay giờ thấy được đào tạo tốt hơn phi công. Hầu hết các tính toán cho một là khắc nghiệt ảnh: CÁN mỗi phi công cho KPAF được cho là chỉ có 15 hoặc 25[31] giờ mỗi phi công mỗi năm - so sánh đến giờ bay của không lực trong ex-Xô nước trong những năm 1990. So, hầu hết NATO phi công chiến đấu bay ít nhất 150 giờ một năm. Đất đào tạo, cả trong các lớp học, trên dạy chiếc hoặc trong một mô phỏng bay chỉ có thể thay thế cho 'thật' đến một mức nào đó, và thấp số hiện đại máy bay huấn luyện trong KPAF kho vũ khí điểm đến một số tiền rất khiêm tốn của bay thời gian cho sự hình thành của các phi công mới.

Có một số có thể giải thích cho các thấp KIM: quan tâm hơn trong lão hóa thiết bị, sự khan hiếm của phụ tùng - đặc biệt là cho các máy bay cũ - khó khăn với đeo chiếc máy bay sợ đào tẩu và sự khan hiếm của nhiên liệu là tất cả các yếu tố. Nó rất có khả năng tuy nhiên, có một số 'ưu tú' phi công và trung đoàn nhận được nhiều hơn đáng kể bay giờ. Đặc biệt là những người được trang bị hiện đại máy bay và giao nhiệm vụ tổ quốc như quốc phòng 57 trung đoàn bay MiG-29 và các trung đoàn 60 bay MiG-23 - được nhận nhiều lần, trung bình KIM mỗi phi công, tuy nhiên, lão hóa thiết bị này, thiếu nhiên liệu và chung cuộc khủng hoảng kinh tế trong triều tiên sẽ ảnh hưởng đến các trung đoàn như vậy, và giữ KIM thấp so với NATO KIM.

THƯ báo cáo vào ngày 23, 2012 rằng KPAF đã được tiến hành chuyến bay huấn luyện hơn mức trung bình trong năm 2011.

Chosun Ilbo báo cáo vào Ngày 29 năm 2012 rằng KPAF đã tăng đáng kể số lượng của chuyến bay 650 mỗi ngày.[32]

Quân phục và cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Quân phục[sửa | sửa mã nguồn]

Quân phục của lực lượng Phòng không Không quân theo kiểu dáng chung của Lục quân Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Điểm khác biệt duy nhất là các đường viền màu xanh không quân (thay vì màu đỏ) trên mũ hoặc trên cấp hiệu để phân biệt.

Cấp bậc[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống cấp bậc trong lực lượng Phòng không Không quân thống nhất về danh xưng với Lục quân, cũng được phân loại thành các bậc Tướng, Tá, Úy, Hạ sĩ quan và Binh sĩ. Về cấp hiệu cũng gần tương đồng với cấp hiệu của Lục quân, chỉ khác biệt ở các đường viền màu xanh không quân (thay vì màu đỏ) trên cấp hiệu để phân biệt.

Cấp bậc cao nhất trong lực lượng Phòng không Không quân là Đại tướng. Các cấp bậc Nguyên soái và Phó nguyên soái là những cấp bậc quân sự chính trị cao cấp và không phân biệt quân chủng.[33] Hai quân nhân xuất thân từ lực lượng Phòng không Không quân từng đạt đến các cấp bậc này gồm Bộ trưởng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, Nguyên soái Ch'oe Kwang, hay Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị, Phó nguyên soái Jo Myong-rok.

Một số tướng lĩnh nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Wang Ryeon (Chosŏn'gŭl: 왕련; 1912-1958), Tư lệnh Không quân đầu tiên (1951-1952). Trung tướng (1953).
  • Ch'oe Kwang (Chosŏn'gŭl: 최광; 1918–1997), Tư lệnh Không quân (1958-1962). Trung tướng (1953), Thượng tướng (1960), Đại tướng (1963), Phó nguyên soái (1992), Nguyên soái quân đội (1995).
  • O Kuk-ryol (Chosŏn'gŭl: 오극렬; 1931-), Tư lệnh Không quân (1967-1969). Trung tướng (1967), Thượng tướng (1980), Đại tướng (1985).
  • Jo Myong-rok (Chosŏn'gŭl: 조명록; 1928–2010), Tư lệnh Không quân (1977-1995). Trung tướng (1977), Thượng tướng (1985), Đại tướng (1992), Phó nguyên soái (1995).
  • O Gum-chol (Chosŏn'gŭl: 오금철; 1947-), Tư lệnh Không quân (1995-2008). Thượng tướng (1995), Đại tướng (2014).
  • Ri Pyong-chol (Chosŏn'gŭl: 리병철; 1948-), Tư lệnh Phòng không Không quân (2008-2014). Thượng tướng (2008), Đại tướng (2010).[34]
  • Ch'oe Yong-ho (Chosŏn'gŭl: 최용호; ?- ), Tư lệnh Phòng không Không quân (2014-nay). Thượng tướng (2014).

Các phi công Ace[sửa | sửa mã nguồn]

Đào tẩu[sửa | sửa mã nguồn]

No Kum-sok trong trang phục phi công.

Do tình trạng chính trị của Bắc Triều Tiên, một số phi công Bắc Triều Tiên đào tẩu với các máy bay phản lực. Những trường hợp đó gồm:

  • Vào ngày 21 tháng 9 năm 1953, No Kum-sok, một thượng úy phi công 21 tuổi đã lái chiếc MiG-15 về phía Nam và hạ cánh tại căn cứ không quân Kimpo gần Seoul. Đây là chiếc máy bay phản lực thuộc loại máy bay tốt nhất khối Cộng sản khi đó. No được thưởng số tiền $100,000 (895149) và được quyền cư trú ở Hoa Kỳ.
  • Vào ngày 5 tháng 8 năm 1960, một chiếc Shenyang J-5 hạ cánh xuống căn cứ Kimpo. Phía Hàn Quốc đã giữ lại chiếc máy bay và sử dụng để bay nghiên cứu tính năng một thời gian ngắn trước khi loại bỏ.
  • Tháng 2 năm 1983, phi công Lee Ung-Pyong trong một đợt bay huấn luyện đã lợi dụng sơ hở để đào tẩu cùng với chiếc Shenyang J-6 và hạ cánh tại sân bay ở Seoul. Lee được phía Hàn Quốc thưởng 1,2 tỉ won. Theo một số tài liệu, Lee trở thành Đại tá Không quân Hàn Quốc và làm giáo viên huấn luyện cho đến khi qua đời vào năm 2002.
  • Ngày 23 tháng 5 năm 1996, Đại úy Lee Chul-Su đào ngũ trên một chiếc Shenyang J-6 mang số hiệu 529, hạ cánh xuống căn cứ Suwon, bỏ lại vợ và hai con. Lee được thưởng 480 triệu Won (khoảng. $614,000 đô la Mỹ[35] 93815303). Hiện tại, Lee đang là một Đại tá Không quân Hàn Quốc.[36]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ https://www.enca.com/world/north-korean-military-takes-oath-loyalty
  2. ^ Flightglobal - World Air Forces 2015 (PDF), Flightglobal.com
  3. ^ Richard M Bennett. “Missiles and madness”. Asia Times. 
  4. ^ North Korea appoints new air force commander
  5. ^ “KPAF”. GlobalSecurity.org. 
  6. ^ North Korea Country Study, pp. 18-19
  7. ^ OSOAVIAKhIM (tiếng Nga: Общество содействия обороне, авиационному и химическому строительству, viết tắt ОСОАВИАХИМ hoặc ОАХ, Hiệp hội Hỗ trợ Quốc phòng, Hàng không và Hóa chất, một tổ chức bán quân sự nhằm phát hiện và huấn luyện nhân lực tiềm năng cho quốc phòng của Liên Xô, tiền thân của tổ chức DOSAAF.
  8. ^ Leone, Dario. “The Aviationist”. An unknown story from the Yom Kippur war: Israeli F-4s vs North Korean MiG-21s. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  9. ^ North Korea appoints new air force commander
  10. ^ North Korean Special Weapons Facilities, Federation of American Scientists, 2006.
  11. ^ North Korean Air Forces, Scramble, Dutch Aviation Society, 2006.
  12. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ “World Air Forces 2019”. Flightglobal Insight. 2019. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2019. 
  13. ^ “North Korea’s Illegally Supplied Helicopters Emerge”. businessinsider.com. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  14. ^ “Pacific Aerospace guilty of planning unlawful export to North Korea”. Stuff. 11 tháng 10 năm 2017. 
  15. ^ “North Korea’s Illegally Supplied Helicopters Emerge”. businessinsider.com. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  16. ^ https://defence.pk/pdf/threads/north-korean-peoples-army-pics.358464/
  17. ^ N. Korea's Drones Prompt Seoul To Seek Radars - Defensenews.com, 14 April 2014
  18. ^ North Korea Used Cheap Chinese Commercial UAVs - Strategypage.com, 20 April 2014
  19. ^ http://www.foxnews.com/world/2012/02/05/report-north-korea-using-old-us-made-drones/
  20. ^ http://www.defense.gov/pubs/North_Korea_Military_Power_Report_2013-2014.pdf
  21. ^ http://sputniknews.com/analysis/20160118/1033330675/north-korea-drone-ops.html
  22. ^ http://sputniknews.com/analysis/20160118/1033330675/north-korea-drone-ops.html
  23. ^ http://sputniknews.com/analysis/20160118/1033330675/north-korea-drone-ops.html
  24. ^ a ă â b Trade Registers.
  25. ^ Collapse of Libya's air defence, Defence Today, 2011.
  26. ^ http://www.janes.com/article/43551/us-s-korean-sources-suggest-north-has-slbm-ambitions
  27. ^ Армия Ким Чен Ира, Анатолий Цыганок. ПОЛИТ.РУ, 16 October 2006
  28. ^ Analysis: New combat vehicles and tanks at military parade in North Korea by Army Recognition - Armyrecognition.com, 17 April 2017
  29. ^ Korean People's Army Air Force - North Korea
  30. ^ North Korea 'develops stealth paint to camouflage fighter jets'
  31. ^ Intelligence experts analyse 'North Korean fighter jet crash', The Telegraph, 18 August 2010
  32. ^ “N.Korea Steps Up Air Force Training Flights”. The Chosun Ilbo (English Edition) archived at archive.org. 29 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2013. North Korea has stepped up the number of training flights since last month to as many as 650 sorties a day. The North Korean air force is conducting training flights even on weekends [...] 
  33. ^ Tertitskiy, Fyodor (14 tháng 3 năm 2017). “North Korea’s baffling personalized rank insignia, explained”. NK News. 
  34. ^ One report claimed that General Ri Pyong-chol was executed in August 2014; George Petras, North Korea executions under Kim Jong Un USA Today, 2016-02-10
  35. ^ “XE Currency Table: KRW - South Korean Won”. www.xe.com. XE. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2017. 
  36. ^ NK pilot defector promoted to colonel