Hyesan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hyesan
Chuyển tự Tiếng Triều Tiên
 • Hangul혜산시
 • Hanja惠山市
 • Romaja quốc ngữHyesan si
 • McCune–ReischauerHyesan-si
Hyesan nhìn từ Trung Quốc
Hyesan nhìn từ Trung Quốc
Hyesan tại tỉnh Ryanggang
Hyesan tại tỉnh Ryanggang
Hyesan trên bản đồ Thế giới
Hyesan
Hyesan
Quốc giaBắc Triều Tiên
Diện tích
 • Tổng cộng277 km2 (107 mi2)
Dân số (2008[1])
 • Tổng cộng192,680 người

Hyesan (phát âm tiếng Triều Tiên: [he.san]) Hán Việt: Huệ Sơn) là một thành phố ở phía bắc của tỉnh Ryanggang, Bắc Triều Tiên. Đây là một trung tâm vận chuyển đường sông cũng như một trung tâm phân phối sản phẩm. Đây cũng là trung tâm hành chính của tỉnh Ryanggang. Tính đến năm 2008, dân số của thành phố là 192.680.[1]

Thành phố tọa lạc gần dãy núi Baekdu tại biên giới với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (tỉnh Cát Lâm). Đối diện với nó là huyện Trường Bạch của Trung Quốc ở bên kia sông Yalu.

Diện tích[sửa | sửa mã nguồn]

Vào những năm 1940, Thành phố này bao gồm cả núi Baekdu gần đó. Tuy nhiên, do một số thay đổi, diện tích của thành phố này đã bị giảm và hiện tại nó chỉ tương ứng với sông Yalu gần đó.

Cùng với toàn bộ lãnh thổ Bắc Triều Tiên, thành phố này được Hàn Quốc tuyên bố chủ quyền, với diện tích là những năm 1940, chứ không phải do Triều Tiên chỉnh sửa. Do đó, thành phố này ở Hàn Quốc vẫn bao gồm ngọn núi Baekdu gần đó.

Với vấn đề này, Hàn Quốc có mâu thuẫn với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vì dãy núi Baekdu. Ngọn núi này thực sự bị chia làm hai: phần phía nam được quản lý bởi Bắc Triều Tiên trong khi phần phía bắc được quản lý bởi Trung Quốc. Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn tuyên bố phần phía bắc. Nó không được tuyên bố chính thức, nhưng từ các bản đồ được in bởi Hàn Quốc, nó thực sự được tuyên bố. Ngoài ra, Đài Loan tuyên bố chủ quyền với toàn bộ ngọn núi.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố nằm trong dãy núi Paektu ở biên giới với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Cát Lâm), ngăn cách bởi [[Sông Yalu|Yalu (Amrok)]. Trường Bạch là thành phố gần nhất của Trung Quốc bên kia sông.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Hyesan có ảnh hưởng độ cao khí hậu lục địa ẩm (phân loại khí hậu Köppen Dwb ). Thành phố này nằm ở khu vực lạnh nhất Triều Tiên, với nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được là -42 ℃(-44 °F) năm 1915.

Dữ liệu khí hậu của Hyesan (1981-2010)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) −10.1 −5.7 2.6 12.5 19.5 22.8 25.5 24.9 19.2 12.4 2.0 −7.7 9.82
Trung bình ngày, °C (°F) −18.4 −13.3 −3.5 5.6 12.3 16.7 20.5 19.9 13.0 5.5 −3.8 −15.5 3.25
Trung bình thấp, °C (°F) −22.6 −18.9 −9.6 −1.2 5.2 10.7 15.5 15.0 6.8 −1.3 −9.6 −19.3 −2.44
Giáng thủy mm (inch) 14.6
(0.575)
8.8
(0.346)
31.7
(1.248)
36.1
(1.421)
73.8
(2.906)
99.2
(3.906)
149.4
(5.882)
104.8
(4.126)
59.5
(2.343)
35.6
(1.402)
26.2
(1.031)
22.8
(0.898)
662,5
(26,083)
Nguồn #1: Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (lượng mưa)[2]
Nguồn #2: Climate-data.org (Nhiệt độ)[3]

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hyesan City được chia thành 25 tong (phường) và 4 ri (xã):

  • Ch'un-dong (춘동)
  • Hyegang-dong (혜강동)
  • Hyehŭng-dong (혜흥동)
  • Hyehwa-dong (혜화동)
  • Hyejang-dong (혜장동)
  • Hyemyŏng-dong (혜명동)
  • Hyesan-dong (혜산동)
  • Hyesin-dong (혜신동)
  • Hyet'an-dong (혜탄동)
  • Kangan-dong (강안동)
  • Kanggu-dong (강구동)
  • Kŏmsan-dong (검산동)
  • Masan 1-dong (마산1동)
  • Masan 2-dong (마산2동)
  • Ryŏnbong 1-dong (련봉1동)
  • Ryŏnbong 2-dong (련봉2동)
  • Ryŏndu-dong (련두동)
  • Sinhŭng-dong (신흥동)
  • Songbong 1-dong (송봉1동)
  • Songbong 2-dong (송봉2동)
  • Sŏnghu-dong (성후동)
  • T'apsŏng-dong (탑성동)
  • Wiyŏn-dong (위연동)
  • Yŏnhŭng-dong (영흥동)
  • Yŏnp'ung-dong (연풍동)
  • Changal-li (장안리)
  • Rojung-ri (로중리)
  • Sinjang-ri (신장리)
  • Unch'ong-ri (운총리)

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hyesan có các nhà máy chế biến gỗ, nhà máy giấy và nhà máy dệt. Kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế của Triều Tiên gia tăng vào giữa những năm 1990, thành phố đã phải chịu sự đình trệ kinh tế và một số nhà máy trong thành phố bị đóng cửa. Các báo cáo và hình ảnh được chụp từ phía bên sông của Trung Quốc cho thấy một "Thành phố ma": hầu như không có chuyển động nào trên đường phố và vào ban đêm thành phố tối và không có điện. Cư dân của thành phố đã giặt quần áo trên sông vì nhà không có nước.

Được khám phá lần đầu tiên vào những năm 1960, mỏ Hyesan hàng năm sản xuất ra 10.000 tấn đồng. khu vực này chiếm 80% trữ lượng đồng của Bắc Triều Tiên, và Triều Tiên đã ước tính rằng họ sẽ có thể tiếp tục khai thác đồng ở đó trong bốn mươi năm tới. Khi mỏ Kapsan Tongjum,được khai thác trong thời kỳ thuộc địa Nhật Bản, cuối cùng đã cạn kiệt và đóng cửa vào năm 1990, Mỏ Hyesan trở thành huyết mạch của sản xuất đồng quốc gia. Vào thời điểm đó, mỏ bị ngập vì thiết bị bơm ngừng hoạt động do thiếu điện trên toàn quốc. Mặc dù các công nhân tại mỏ đã cố gắng hết sức để bơm nước, nhưng họ không thể ngăn nước chảy vào mỏ với tốc độ 480㎥/giờ. Vào năm 1996, trong thời gian trong "Tháng ba gian khổ" của miền Bắc, điện không được cung cấp cho mỏ, dẫn đến lũ lụt trong các hầm mỏ vào tháng 1 năm 1997. Mỏ Hyesan bị ngập lụt trở lại, cũng như các mỏ khác trên khắp đất nước, và mất tất cả các cơ sở khai thác. Từ năm 1998, Kim Jong Il đã chi ngân sách 8.2 triệu USD để làm hút nước ra khỏi các mỏ, và mỏ đã được khôi phục bằng điện và thiết bị do Trung Quốc cung cấp.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hyesan được kết nối với các thành phố khác ở Bắc Triều Tiên bằng đường bộ và bằng tuyến Paektusan Ch'ŏngnyŏnPukpu của Đường sắt Nhà nước Triều Tiên.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Các trường học ở Hyesan bao gồm Trường trung học Hyesan và Trường Nữ sinh Hyesan. Giáo dục đại học bao gồm Đại học Y Hyesan, Đại học Nông lâm Hyesan, Cao đẳng Sư phạm Kim Jŏng-suk, Đại học Kỹ thuật Ánh sáng Hyesan, và Đại học Công nghiệp Hyesan.

Ở vùng nông thôn gần Hyesan có một số cảnh quan gồm lầu Kwaegung, suối nước nóng Naegoknúi Baekdu.

Người nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Park Yeon-mi (b. 1993), nhà hoạt động và người đào tẩu, đã trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên vào năm 2007.
  • Lee Hyeon-seo (b. 1980), nhà hoạt động và người đào tẩu, đã trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên vào năm 1997.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “2008 Population Census of DPR Korea” (PDF). Central Bureau of Statistics, DPR Korea. 2009. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ “Precipitation: Hyesan”. Japan Meteorological Agency. 
  3. ^ “Climate: Hyesan”. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dormels, Rainer. North Korea's Cities: Industrial facilities, internal structures and typification. Jimoondang, 2014. ISBN 978-89-6297-167-5

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 41°24′B 128°11′Đ / 41,4°B 128,183°Đ / 41.400; 128.183