Quân chủng Tên lửa Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lực lượng Tên lửa Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc tiếng Trung: 中国人民解放军火箭军), là một lực lượng quân sự cấp quân chủng của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, trước đây là Quân đoàn Pháo binh số 2 (SAC; tiếng Trung: 第二 炮兵), là lực lượng tên lửa chiến lược và chiến thuật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Lực lượng Tên lửa Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc là một bộ phận của Quân đội Giải phóng Nhân dân và kiểm soát kho vũ khí tên lửa đạn đạo trên đất liền của quốc gia — cả hạt nhân (nhiệt) và hạt nhân thông thường. Chi nhánh quân sự được thành lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1966 và ra mắt công chúng lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 1984. Trụ sở chính cho các hoạt động được đặt tại nhai đạo Thanh Hà, Bắc Kinh. Lực lượng Tên lửa Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc chịu sự chỉ huy trực tiếp của Quân ủy Trung ương Trung Quốc.

Tổng cộng, Trung Quốc ước tính sở hữu 320 đầu đạn hạt nhân vào năm 2020, với số lượng chưa rõ trong số chúng đang hoạt động và sẵn sàng triển khai.[1] Năm 2013, Tình báo Hoa Kỳ ước tính kho vũ khí ICBM đang hoạt động của Trung Quốc có tầm bắn từ 50 đến 75 tên lửa đối đất và trên biển, nhưng các đánh giá tình báo gần đây hơn vào năm 2019 đưa số lượng ICBM của Trung Quốc vào khoảng 90 và đang tăng nhanh.[2]. Lực lượng Tên lửa Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc bao gồm khoảng 100.000 nhân viên và sáu lữ đoàn tên lửa đạn đạo. Sáu lữ đoàn được triển khai độc lập tại các quân khu khác nhau trong cả nước. Hiện lực lượng này có hơn 2.000 tên lửa đạn đạo và hàng trăm tên lửa hành trình trong kho vũ khí của mình.

Tên gọi được đổi thành Lực lượng Tên lửa của Quân đội Giải phóng Nhân dân vào ngày 1 tháng 1 năm 2016.[3][4] Bất chấp tuyên bố của một số người, dường như không có bằng chứng nào cho thấy thế hệ tàu ngầm tên lửa đạn đạo mới của Trung Quốc sẽ nằm dưới sự kiểm soát của Lực lượng Tên lửa Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc.[5][6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Nuclear weapon modernization continues but the outlook for arms control is bleak”. sipri.org. 2020. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2020.
  2. ^ 2013 China report Lưu trữ 2015-01-13 tại Wayback Machine, defense.gov
  3. ^ “China's nuclear policy, strategy consistent: spokesperson”. Xinhua. Beijing: People's Republic of China. ngày 1 tháng 1 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2019.
  4. ^ Fisher, Richard D., Jr. (ngày 6 tháng 1 năm 2016). “China establishes new Rocket Force, Strategic Support Force”. Jane's Defence Weekly. Surrey, UK: Jane's Information Group. 53 (9). ISSN 0265-3818. This report also quotes Chinese expert Song Zhongping saying that the Rocket Force could incorporate 'PLA sea-based missile unit[s] and air-based missile unit[s]'.
  5. ^ Medcalf, Rory (2020). The Future of the Undersea Deterrent: A Global Survey. Acton, Australia: National Security College, The [[[Australian National University]]. tr. 26–27. ISBN 9781925084146. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2020.
  6. ^ Logan, David C; Center for the Study of Chinese Military Affairs (Institute for National Strategic Studies at National Defense University) (2016). “China's Future SSBN Command and Control Structure”. Strategic Forum (bằng tiếng Anh). Washington, D.C.: NDU Press (299): 2–3. OCLC 969995006.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)