Larissa (vệ tinh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Larissa
Larissa 1.jpg
Larissa from Voyager 2
Khám phá
Khám phá bởi Harold J. Reitsema, William B. Hubbard, Larry A. Lebofsky, và David J. Tholen
Ngày khám phá 24 tháng 5 năm 1981
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Kỷ nguyên 18 tháng 8 năm 1989
Bán trục lớn 73 548 ± 1 km
Độ lệch tâm 0.001393 ± 0.00008
Chu kỳ quỹ đạo 0.55465332 ± 0.00000001 d
Độ nghiêng quỹ đạo
  • 0.251 ± 0.009° (so với xích đạo của Sao Hải Vương)
  • 0.205° (to local Laplace plane)
vệ tinh của Sao Hải Vương
Đặc trưng vật lý
Kích thước 216×204×168 km (± ~10 km)[2][3]
Bán kính trung bình 97 ± 3 km[4]
Thể tích ~3.5×106km³
Khối lượng ~4.2×1018 kg (ước lượng)[a]
Mật độ khối lượng thể tích ~1.2 g/cm³ (ước lượng)[4]
Hấp dẫn bề mặt

~299.075

m/s2[b]
Tốc độ vũ trụ cấp 2

~7.6

km/s[c]
Chu kỳ tự quay đồng bộ chuyển động quay
Độ nghiêng trục quay không
Suất phản chiếu 0.09[2][4]
Nhiệt độ ~51 K (ước lượng)
Cấp sao biểu kiến 21.5[4]

Larissa ( /ləˈrɪsə/ lə-RISSlə-RISS; Greek: Λάρισσα), còn được biết đến là Neptune VII, là vệ tinh bên trong gần thứ năm của Sao Hải Vương. Nó được đặt tên theo thần Larissa, một tình nhân của thần Poseidon (Neptune) trong thần thoại Hy Lạp và là nữ thần được lấy để đặt tên cho một thành phốThessalía, Hy Lạp.

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Vệ tinh Larissa lần đầu được phát hiện bởi Harold J. Reitsema, William B. Hubbard, Larry A. LebofskyDavid J. Tholen, dựa trên những quan sát che khuất sao trên mặt đất tình cờ[6] vào ngày 24 tháng 5 năm 1981, và được đặt ký hiệu tạm thời là S/1981 N 1 và được tuyên bố vào ngày 29 tháng 5 năm 1981.[7] Vệ tinh này được phát hiện lại và được xác nhận là vật thể duy nhất trong quỹ đạo của nó trong chuyến bay ngang qua của tàu Voyager 2 vào năm 1989[8] sau khi nó nhận thêm một ký hiệu phụ nữa là S/1989 N 2 vào ngày 2 tháng 8 năm 1989.[9] Tuyên bố bởi Stephen P. Synnott nói tới “10 khung hình được chụp trong 5 ngày”, như vậy thời gian phát hiện lại là đâu đó trước ngày 28 tháng 7. Nó được đặt tên chính thức vào ngày 16 tháng 9 năm 1991.[10]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trước và sau của vệ tinh Larissa
Bản đồ của Larissa
Một hình ảnh mô phỏng của vệ tinh Larissa đang quay quanh Sao Hải Vương. Các chi tiết trên bề mặt là giả tưởng.

Là vệ tinh lớn thứ tư của Sao Hải Vương, vệ tinh Larissa có hình dạng dị thường (không có hình cầu) và có vẻ như bị va chạm nặng nề, với không dấu hiệu nào của sự biến đổi địa chất. Ngoài ra không còn thông tin gì được biết tới. Có khả năng là vệ tinh Larissa, giống như các vệ tinh khác bên trong vệ tinh Triton, là một khối mảnh vụn tái hình thành quanh một hạt nhân từ các mảnh vỡ của các vệ tinh gốc của Sao Hải Vương, những vệ tinh mà đã bị đập vỡ bởi những sự nhiễu loạn từ vệ tinh Triton ngay sau khi vệ tinh này bị bắt giữ vào một quỹ đạo ban đầu có độ lệch tâm rất cao.[11]

Quỹ đạo của vệ tinh Larissa có hình tròn nhưng không hoàn hảo và nằm bên dưới bán kính quỹ đạo đồng bộ của Sao Hải Vương, vậy nên nó di chuyển xoắn ốc dần vào trong do tác động của lực thủy chiều và sau cùng có thể va chạm vào khí quyển của Sao Hải Vương, hoặc vỡ vụn thành một vành đai hành tinh khi vượt qua giới hạn Roche do lực dãn thủy chiều, cũng giống như cách vệ tinh Triton sẽ đâm vào Sao Hải Vương hoặc sẽ vỡ vụn thành một vành đai hành tinh.

Thám hiểm[sửa | sửa mã nguồn]

Vệ tinh Larissa mới chỉ được ghé thăm bởi tàu Voyager 2. Tàu do thám đã có thể chụp được ảnh vệ tinh Larissa.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ước lượng khối lượng được dựa vào khối lượng riêng giả sử là 1.2 g/cm³, và thể tích là 3.5 ×106 km³ có được từ mô hình hình dạng chi tiết trong Stooke (1994).[5]
  2. ^ Lực hấp dẫn bề mặt có nguồn gốc từ khối lượng m, hằng số hấp dẫn G và bán kính r: Gm/r2.
  3. ^ Tốc độ vũ trụ cấp hai có nguồn gốc từ khối lượng m, hằng số hấp dẫn G và bán kính r: 2Gm/r.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jacobson, R. A.; Owen, W. M., Jr. (2004). “The orbits of the inner Neptunian satellites from Voyager, Earthbased, and Hubble Space Telescope observations”. Astronomical Journal 128 (3): 1412–1417. Bibcode:2004AJ....128.1412J. doi:10.1086/423037. 
  2. ^ a ă Karkoschka, Erich (2003). “Sizes, shapes, and albedos of the inner satellites of Neptune”. Icarus 162 (2): 400–407. Bibcode:2003Icar..162..400K. doi:10.1016/S0019-1035(03)00002-2. 
  3. ^ Williams, Dr. David R. (ngày 22 tháng 1 năm 2008). “Neptunian Satellite Fact Sheet”. NASA (National Space Science Data Center). Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2008. 
  4. ^ a ă â b “Planetary Satellite Physical Parameters”. JPL (Solar System Dynamics). Ngày 18 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2011. 
  5. ^ Stooke, Philip J. (1994). “The surfaces of Larissa and Proteus”. Earth, Moon, and Planets 65 (1): 31–54. Bibcode:1994EM&P...65...31S. doi:10.1007/BF00572198. 
  6. ^ Reitsema, H. J.; Hubbard, W. B.; Lebofsky, L. A.; Tholen, D. J. (1982). “Occultation by a Possible Third Satellite of Neptune”. Science 215 (4530): 289–291. Bibcode:1982Sci...215..289R. PMID 17784355. doi:10.1126/science.215.4530.289. 
  7. ^ Marsden, Brian G. (ngày 29 tháng 5 năm 1981). “S/1981 N 1”. IAU Circular 3608. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  8. ^ Smith, B. A.; Soderblom, L. A.; Banfield, D.; Barnet, C.; Basilevsky, A. T.; Beebe, R. F.; Bollinger, K.; Boyce, J. M.; Brahic, A. (1989). “Voyager 2 at Neptune: Imaging Science Results”. Science 246 (4936): 1422–1449. Bibcode:1989Sci...246.1422S. PMID 17755997. doi:10.1126/science.246.4936.1422.  [on page 1435]
  9. ^ Marsden, Brian G. (ngày 2 tháng 8 năm 1989). “Satellites of Neptune”. IAU Circular 4824. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  10. ^ Marsden, Brian G. (ngày 16 tháng 9 năm 1991). “Satellites of Saturn and Neptune”. IAU Circular 5347. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  11. ^ Banfield, Don; Murray, Norm (tháng 10 năm 1992). “A dynamical history of the inner Neptunian satellites”. Icarus 99 (2): 390–401. Bibcode:1992Icar...99..390B. doi:10.1016/0019-1035(92)90155-Z. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]