Latrodectus katipo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Latrodectus katipo
Latrodectus katipo.jpg
Con cái
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Lớp (class) Arachnida
Bộ (ordo) Araneae
Họ (familia) Theridiidae
Chi (genus) Latrodectus
Loài (species) L. katipo
Danh pháp hai phần
Latrodectus katipo
Powell, 1870[1]
Range of black and red forms of Latrodectus katipo.png
Danh pháp đồng nghĩa

Latrodectus katipo, katipo, là một loài nhện nguy cấp có nguồn gốc từ New Zealand. Một thành viên của chi Latrodectus, nó có liên quan để nhện lưng đỏ Úc, và nhện quả phụ Bắc Mỹ đen. Đây là loài có thể gây độc cho con người, với vết cắn tương đối nguy hiểm. Katipo là một tên Māori và có nghĩa là "loài chích đêm". Nó là một con nhện nhỏ để vừa với con cái có một cơ thể đặc biệt màu đen với sọc màu đỏ viền trắng trên lưng. Con đực có kích thước nhỏ hơn nhiều so với con cái và khá khác nhau về hình dạng, màu trắng với sọc màu đen và đỏ kim cương đánh dấu hình. Katipo có một môi trường sống thu hẹp, chỉ được tìm thấy sống trong những cồn cát gần bờ biển. Chúng bao gồm hầu khắp các vùng ven biển New Zealand, nhưng không được tìm thấy tại khu vực phía nam. Chúng dệt mạng nhẹn lộn xộn bất thường giữa các cây cồn cát và các mảnh vụn khác, chúng ăn chủ yếu là về côn trùng ở mặt đất.

Sau khi giao phối vào tháng 8 hoặc tháng 9, con cái đẻ năm hoặc sáu túi trứng trong tháng 11 hoặc tháng 12. Trứng nở vào tháng 1 và tháng 2 và con non phân tán vào các nhà máy xung quanh. Do mất nơi sống và thực dân hoá của môi trường sống tự nhiên bởi những con nhện kỳ lạ khác, katipo đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.

Một vết cắn từ katipo tạo ra một hội chứng độc hại được biết đến như latrodectism. Các triệu chứng bao gồm đau đớn cùng cực và hiệu ứng có khả năng hệ thống, chẳng hạn như tăng huyết áp, co giật hoặc hôn mê. Ít có vụ bị nhện cắn và không có ca tử vong được báo cáo từ thế kỷ 19. Thuốc chống nọc đọc hiện có sẵn tại New Zealand để điều trị. Katipo là đặc biệt đáng chú ý ở New Zealand là quốc gia gần như hoàn toàn không có động vật hoang dã có nguồn gốc nguy hiểm. Tình trạng độc đáo này đã dẫn đến con nhện trở thành nổi tiếng[2], mặc dù rất hiếm khi bắt gặp nó[3].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Platnick, Norman I. (22 tháng 11 năm 2011). “Fam. Theridiidae”. The World Spider Catalog, Version 12.5. New York, NY, USA: American Museum of Natural History. doi:10.5531/db.iz.0001. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012. 
  2. ^ Sutton M. E., Christensen B., Hutcheson J. A. (April năm 2006). “Field identification of katipo (DOC Research & Development Series 237)” (PDF). Wellington, New Zealand: Department of Conservation. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2008. 
  3. ^ Simon Collins (14 tháng 1 năm 2005). “Katipo now rarer than the kiwi”. New Zealand Herald. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Latrodectus katipo tại Wikimedia Commons