Linh dương Sitatunga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tragelaphus spekii
Sitatunga at Oji Zoo.JPG
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Bovinae
Chi (genus) Tragelaphus
Loài (species) T. spekii
Danh pháp hai phần
Tragelaphus spekii
Sclater, 1863[2]
Tragelaphus spekii map.png
Danh pháp đồng nghĩa[2]
  • T. albonotatus (Neumann, 1905)
  • T. baumii (Sokolowsky, 1903)
  • T. inornatus (Cabrera, 1918)
  • T. larkenii (St Leger, 1931)
  • T. speckei (Neumann, 1900)
  • T. typicus (R. Ward, 1910)
  • T. ugallae (Matschie, 1913)
  • T. wilhelmi (Lönnberg and Gyldenstolpe, 1924)

Linh dương Sitatunga (danh pháp hai phần: Tragelaphus spekii) là một loài động vật có vú trong họ Bovidae, bộ Artiodactyla. Loài này được Speke mô tả năm 1863.[2]. Chúng thường sinh sống ở đầm lầy được tìm thấy khắp Trung Phi, tập trung ở Cộng hòa Dân chủ Congo, Cameroon và một số khu vực của Nam Sudan cũng như ở Ghana, Botswana, Zambia, Gabon, Tanzania, UgandaKenya. Loài này được mô tả lần đầu bởi nhà thám hiểm Anh John Hanning Speke năm 1863. Chúng là linh dương cỡ vừa. Con đực có chiều cao đến vai khoảng 81–116 cm. Chúng có lông không thấm nước, rậm có nhiều màu khác nhau. Thân và chân đặc biệt thích nghi với môi trường sống đầm lầy. Chỉ có con đực có sừng hình xoắn ốc, có một hoặc hai chỗ xoắn và dài 45-92 cm.

Linh dương Sitatunga hoạt động chủ yếu là trong những giờ đầu sau khi bình minh, một hoặc hai giờ cuối cùng trước khi hoàng hôn, và ban đêm. Chúng không phải là là loài có ý thức chiếm lãnh thổ. Linh dương Sitatunga được chọn lọc thức ăn và thức ăn chủ yếu trên lá mới, cỏ tươi, cây thủy sinh, lá lau lách và chồi non. Con cái có thành thục sinh dục lúc đạt một tuổi, trong khi con đực mất một năm rưỡi để trưởng thành. Mùa sinh sản xảy ra trong suốt năm nhưng nhiều nhất vào mùa khô. Thời gian mang thai kéo dài gần tám tháng, sinh một con non. Tuổi thọ trung bình được ghi trong điều kiện nuôi nhốt 22-23 năm.

Linh dương Sitatunga giới hạn trong môi trường sống đầm lầy và đầm lầy. Ở đây sinh sống trong thảm thực vật cao lớn và dày đặc cũng như đầm lầy theo mùa, các khu vực cây thưa trong rừng, bụi ven sông và đầm lầy ngập mặn. Việc mất môi trường sống là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sự sống còn của loài linh dương Sitatunga. Loài này đã được phân loại là loài ít quan tâm theo Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN), và theo Phụ lục III (Ghana) của Công ước Washington (CITES). Mặc dù có một số quần thể nhỏ ở một số quốc gia, loài này phổ biến trong nhiều khu vực như đồng bằng sông Okavango và đầm lầy Bangweulu.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Tragelaphus spekii. 2008 Sách đỏ IUCN. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế 2008. Truy cập ngày ngày 29 tháng 3 năm 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern.
  2. ^ a ă â Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). “Tragelaphus spekii”. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Tragelaphus spekii tại Wikimedia Commons