Linh dương sừng kiếm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Scimitar oryx
Oryx dammah 2.jpg
Linh dương trưởng thành
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Hippotraginae
Chi (genus) Oryx
Loài (species) O. dammah
Danh pháp hai phần
Oryx dammah
Cretzschmar, 1827

Scimitar oryx hoặc Scimitar-horned oryx, dịch sang tiếng Việt gọi là Linh dương sừng kiếm, (danh pháp hai phần: Oryx dammah), cũng được gọi là Sahara oryx (linh dương sừng thẳng Sahara), là 1 loài Oryx (linh dương sừng thẳng) hiện nay đã tuyệt chủng trong tự nhiên. Loài này trước đây sinh sống khắp Bắc Phi. Có một lịch sử phân loại dài kể từ khi phát hiện ra chúng vào năm 1816 bởi Lorenz Oken, người đã đặt danh pháp loài là Oryx algazel. Linh dương sừng kiếm khi đứng bờ vai thấp, chỉ cao hơn 1 mét (3,3 ft). Linh dương đực nặng 140–210 kg (310–460 lb) và linh dương cái nặng 91–140 kg (201–309 lb). Bộ lông có màu trắng với phần ngực nâu đỏ, vệt đen trên trán và kéo dài xuống mũi. Linh dương non được sinh ra có bộ lông màu vàng, điểm phân biệt là các mảng màu ban đầu vắng mặt. Lông thay đổi theo màu sắc trưởng thành khi 3-12 tháng tuổi.

Linh dương sừng kiếm hình thành đàn hỗn giới (cả đực lẫn cái) lên đến 70 thành viên, thường được dẫn đầu bởi các con đực. Chúng cư trú tại vùng bán hoang mạc hay hoang mạc, thích nghi để sống trong cái nóng khắc nghiệt, với cơ chế làm mát hiệu quả và nhu cầu rất thấp đối với nước. Tìm thức ăn trên tán lá, cỏ, cây mọng nước và các bộ phận của cây trong suốt đêm tối hoặc sáng sớm. Sinh sản cao điểm giữa tháng 3 và tháng 10. Sau thai kỳ từ 8 đến 9 tháng, một con non được sinh ra. Ngay sau đó, linh dương cái sẽ động dục hậu sản.

Linh dương sừng kiếm từng phổ biến ở Bắc Phi. Sự suy giảm bắt đầu do kết quả của thay đổi khí hậu. Sau đó, chúng còn bị săn bắt rộng rãi để lấy sừng. Ngày nay, linh dương được nuôi trong điều kiện nuôi nhốt tại nhiều khu bảo tồn đặc biệt ở Tunisia, MoroccoSenegal. Linh dương sừng kiếm được thuần hóa thời Ai Cập cổ đại nhằm cung cấp thực phẩm và vật hiến tế dâng lên các vị thần. Tầng lớp thượng lưu thời La Mã cổ đại cũng nuôi loài này. Việc sử dụng tấm da trị giá của linh dương bắt đầu vào thời Trung Cổ. Huyền thoại Kỳ lân (unicorn) có thể có nguồn gốc từ hình dạng của linh dương sừng kiếm với một chiếc sừng bị gãy.

Cận cảnh phần đầu
Scimitar-Horned Oryx.jpg

Danh mục phân loại và đặt danh pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sừng kiếm là thành viên của chi Oryx và họ Bovidae. Nhà tự nhiên học người Đức Lorenz Oken lần đầu tiên mô tả loài này vào năm 1816, đặt danh pháp Oryx algazel. Danh pháp đã trải qua nhiều thay đổi kể từ đó, với sự ra đời của những danh pháp như Oryx tao, O. leucoryx, O. damma, O. dammah, O. bezoarticusO. ensicornis. Năm 1826, Philipp Jakob Cretzschmar sử dụng danh pháp Oryx ammah cho loài này. Một năm sau, danh pháp Orys leucoryx được đưa vào sử dụng, nhưng vì đây là một danh pháp đồng nghĩa với linh dương sừng thẳng Ả Rập (sau đó được gọi là Oryx beatrix), danh pháp bị loại bỏ, và Oryx algazel đã được chấp nhận 1 lần nữa. Hơn một trăm năm sau, vào năm 1951, Sir John EllermanTerence Morrison-Scott nhận ra sự vô hiệu của danh pháp Oryx algazel. Cuối cùng, vào tháng Giêng năm 1956, danh pháp động vật học quốc tế chấp nhận Oryx dammahdanh pháp hai phần của loài linh dương này. Không có nhiều thay đổi kể từ đó, mặc dù nhiều giấy tờ xuất bản sau năm 1956 nhầm lẫn bằng cách sử dụng những danh pháp như O. gazella tao.[2]

Danh pháp khoa học, Oryx dammah, có nguồn gốc từ: tiếng Hy Lạp cổ đại ὄρυξ (orux), nghĩa là gazelle hoặc linh dương (ban đầu như một cái cuốc[3]); tiếng Latin damma (fallow deer hoặc linh dương); và tiếng Ả Rập dammar (con cừu).[4] Linh dương sừng kiếm được đặt tên do hình dạng sừng,[5] giống như thanh kiếm cong (scimitar).[4] Tên phổ biến của loài trong tiếng Anh là "scimitar-horned oryx", hoặc đơn giản "scimitar oryx".[2]

Di truyền và tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sừng kiếm có 58 chromosome (nhiễm sắc thể). Loài có 1 cặp nhiễm sắc thể điển hình hạ khuynh tâm (submetacentric autosome) lớn và 27 cặp nhiễm sắc thể điển hình dạng que (acrocentric). Nhiễm sắc thể XY là 2 nhiễm sắc thể dạng que lớn nhất và nhỏ nhất.[6] Các nghiên cứu phân tử đầu tiên của loài này (xuất bản năm 2007) quan sát sự đa dạng di truyền giữa châu Âu, Bắc Mỹ và một số nhóm khác được nuôi nhốt. Mức độ phân kỳ được tìm thấy trong DNA ti thể dạng đơn bội, và ước tính đã diễn ra khoảng giữa 2,1 và 2,7 triệu năm trước. Tăng số lượng xảy ra khoảng 1,2 và 0,5 triệu năm trước.[7]

Trong một nghiên cứu khác, nhằm lưu ý sự khác biệt di truyền giữa các loài Oryx, dạng nhân tế bào của những loài Oryx và phân loài – cụ thể là O. gazella, O. b. beisa, O. b. callotis, O. dammahO. leucoryx – được so sánh với kiểu nhân tế bào chuẩn của Bos taurus. Số lượng nhiễm sắc thể thường trong tất cả nhân tế bào là 58. Nhiễm sắc X và Y được bảo tồn cho cả 5 loài.[8]

Mô tả vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sừng kiếm tại vườn thú Warsaw, Ba Lan
Cặp đôi linh dương

Linh dương sừng kiếm khi đứng bờ vai chỉ cao hơn 1 m (3,3 ft). Con đực nặng 140–210 kg (310–460 lb) và con cái nặng 91–140 kg (201–309 lb).[9] Thân hình đo được 140–240 cm (55–94 in) từ đầu đến hết đuôi. Đuôi dài khoảng 45–60 cm (18–24 in) và kết thúc với 1 chùm. Linh dương đực lớn hơn so với linh dương cái.[10]

Lông màu trắng với phần ngực nâu đỏ và vệt đen trên trán kéo dài xuống mũi.[4] Bộ lông phản xạ tia nắng mặt trời, trong khi vệt đen và chóp lưỡi cung cấp khả năng bảo vệ chống lại sự rám nắng.[11][12] Bộ lông trắng sẽ giúp phản xạ sức nóng sa mạc.[13] Linh dương non được sinh ra với lông màu vàng và thiếu dấu phân biệt, xuất hiện sau này trong cuộc đời.[14] Bộ da lông thay đổi sang màu sắc trưởng thành khi được 3–12 tháng tuổi.[11]

Cả đực lẫn cái đều có cặp sừng, nhưng sừng con cái mảnh mai hơn.[14] Cặp sừng dài, mỏng, và cân xứng. Sừng cong ngược (một điểm đặc trưng của loài này), có thể đạt 1,0 đến 1,2 m (3 ft 3 in đến 3 ft 11 in) trên cả con đực và con cái. Cặp sừng mỏng nên có thể dễ dàng gãy.[4] Con cái có 4 bầu vú. Móng guốc lớn, trải rộng thích nghi rất tốt cho phép linh dương bước đi trên cát trong môi trường khô hạn.[5] Linh dương sừng kiếm có thể sống lâu khoảng 20 năm.[4][13][15] Tại vườn thú quốc gia Smithsonian, 1 con linh dương cái chết khi 21, một tuổi thọ ngoại lệ kể từ khi linh dương cái thông thường chỉ có tuổi thọ khoảng 15 năm.[16]

Bệnh tật và ký sinh trùng[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn được rào nhằm mục tiêu tái nhập hoang dã ở Senegal

Linh dương sừng kiếm có thể bị nhiễm khuẩn cryptosporidiosis, một bệnh ký sinh gây ra bởi ký sinh protozoa thuộc chi Cryptosporidium trong ngành Apicomplexa. 1 nghiên cứu năm 2004 cho thấy rằng C. parvum hoặc ký sinh tương tự lây nhiễm cho 155 loài động vật có vú, bao gồm cả linh dương sừng kiếm.[17] Một phân tích năm 2005 cho thấy ký sinh Cryptosporidium trong mẫu phân từ 100 loài động vật có vú, bao gồm cả linh dương sừng kiếm.[18] Kén hợp tử của loài ký sinh mới, Eimeria oryxae, đã được phát hiện trong phân của linh dương sừng kiếm từ vườn thú ở Riyadh.[19] Tại Pháp, ký sinh Streptococcus uberis đã được phân lập lần đầu từ 1 cá thể. Chúng gây ra hội chứng sinh dưỡng viêm màng trong tim ở động vật, dẫn đến xung huyết suy tim gây tử vong.[20]

Một nghiên cứu năm 1983 đã kiểm tra huyết thanh hóa học của mẫu máu lấy từ tĩnh mạch của 50 cá thể linh dương sừng kiếm khác nhau từ con non đến con trưởng thành trên 13 năm tuổi. Nghiên cứu kết luận rằng tế bào eosinophil cao đếm được của con chưa trưởng thành và con trưởng thành có thể phản ánh gánh nặng ký sinh trùng trong cơ thể của chúng lớn hơn so với linh dương sơ sinh.[21]

Sinh thái và hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sừng kiếm tại vườn thú Marwell, Hampshire, Anh.

Linh dương sừng kiếm là một loài rất gắn bó và đi theo bầy đàn khoảng giữa 2 - 40 cá thể, nói chung, dẫn đầu bởi một con đực vượt trội. Loài này mỗi lần tụ tập thành từng đàn lên đến vài ngàn con di cư. Trong mùa mưa, chúng di cư về phía bắc tiến vào Sahara.[14] Linh dương sừng kiếm là loài hoạt động ban ngày. Lúc sáng sớm và đêm tối mát mẻ, linh dương nghỉ ngơi dưới tán cây hay bụi rậm, hoặc nếu không có sẵn, chúng đào chỗ lõm trên đất bằng móng guốc và nghỉ ngơi trên đó. Con đực thường đánh nhau, nhưng không kéo dài và không bạo lực. Động vật săn mồi, như sư tử, báo hoa mai, linh cẩu, báo Gêpa, chó rừng lông vàng, kền kềnchó hoang châu Phi, chủ yếu giết linh dương yếu và trẻ.[2][4]

Hoạt động chơi đùa của 8 con non khi nuôi nhốt được quan sát trong một nghiên cứu năm 1983. Con non đực hoạt động lâu hơn con non cái. Chơi đùa hỗn hợp giới là bình thường; lựa chọn đối tác phụ thuộc vào tuổi tác, nhưng không phải trên quan hệ tình dục hay liên quan di truyền. Kết quả cho thấy rằng kích thước lưỡng hình giới tính là một yếu tố quan trọng chịu trách nhiệm về sự khác biệt giới tính trong hoạt động.[22]

Linh dương sừng kiếm gặm cỏ trên đồng cỏ

Sự thích nghi[sửa | sửa mã nguồn]

Với một hệ thống trao đổi chất có chức năng khi nhiệt độ cao phổ biến trong môi trường sống của loài, linh dương sừng kiếm cần ít nước bốc hơi để giúp thoát nhiệt ra khỏi cơ thể, cho phép chúng di chuyển trong thời gian dài mà không có nước. Loài có thể cho phép nhiệt độ cơ thể tăng lên gần 46,5 °C (115,7 °F) trước khi bắt đầu toát mồ hôi.[5] Trong thời gian nguồn cung dồi dào, linh dương có thể thoát chất lỏng qua đường tiết niệu và phân để giảm nhiệt độ cơ thể xuống dưới 97 °F (36 °C) vào ban đêm, cho thêm thời gian trước khi đạt đến nhiệt độ cơ thể tối đa ngày hôm sau.[14] Chúng có khả năng chịu được nhiệt độ cao mà có thể gây tử vong cho hầu hết các loài hữu nhũ. Loài có một mạng lưới mạch máu khỏe dẫn máu từ tim lên não, đi qua gần thành mũi và do đó cho phép máu làm mát lên đến 5 °F (3 °C) trước khi đến não, đó là một trong những bộ phận hạ nhiệt nhạy cảm nhất của cơ thể.[13][14]

Khẩu phần[sửa | sửa mã nguồn]

Môi trường sống của linh dương sừng kiếm trong tự nhiên là thảo nguyên và sa mạc. Nơi chúng ăn tán lá, cỏ, thảo mộc, cây bụi, cây mọng nước, cây họ đậu, rễ mọng nước, chồi và trái cây.[14] Linh dương có thể sống sót mà không cần nước từ 9 đến 10 tháng nhờ quả thận ngăn chặn sự mất nước từ đường tiết niệu  - thích nghi trong môi trường sa mạc. Loài có khả năng hút nước từ thực vật mọng nước như dưa gang hoang dã (Citrullus colocynthis), Indigofera oblongifolia và từ cành cây trụi lá của loài Capparis decidua. Trong đêm tối hoặc sáng sớm, chúng thường tìm kiếm thực vật như loài Indigofera viscosa, loài cỏ tạo ra một chất tiết hút ẩm đáp ứng nhu cầu về nước. Linh dương ăn cỏ búi như loài cỏ Cymbopogon schoenanthus sau khi có mưa, nhưng thường yêu thích nhiều loại cỏ ngon miệng hơn, chẳng hạn những loài Cenchrus biflora, Panicum laetumDactyloctenium aegyptium. Khi mùa khô bắt đầu, chúng ăn vỏ quả cây Acacia raddiana, và suốt mùa khô, dựa vào cỏ lâu năm thuộc chi Panicum (đặc biệt Panicum turgidum) và Aristida, chồi non của loài Leptadenia,Cassia italicaCornulaca monacantha.[2]

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương non và mẹ

Cả đực và cái động dục khi được 1,5 đến 2 năm tuổi.[4] Sinh sản cao điểm giữa tháng 3 và tháng 10.[4] Tần suất giao phối lớn hơn khi điều kiện môi trường thuận lợi. Trong vườn thú, con đực giao phối tích cực nhất trong mùa thu.[2] Chu kỳ động dục kéo dài khoảng 24 ngày, linh dương cái trải qua một giai đoạn ngăn rụng trứng vào mùa xuân. Giai đoạn giữa sinh ít hơn 332 ngày, cho thấy linh dương sừng kiếm là loài polyestrous.[23]

Tán tỉnh được thực hiện theo một vòng tròn giao phối: đực và cái đứng song song với nhau, đối mặt theo hướng ngược lại, và sau đó vòng quanh cho đến khi con cái cho phép con đực cưỡi lên từ phía sau. Nếu linh dương cái không sẵn sàng giao phối, nó bỏ chạy và vòng theo hướng ngược lại.[14] Con cái mang thai rời khỏi bầy đàn trong một tuần, sinh ra con non và thụ thai một lần nữa trong thời gian động dục hậu sản; do đó chúng có thể sinh một con non mỗi năm.[11] Thai kỳ kéo dài khoảng 9 tháng, sau đó một con non duy nhất được sinh ra, trọng lượng 20 đến 33 pound (9,1 đến 15,0 kg).[14] Sinh đôi rất hiếm  - chỉ có 0,7% lần sinh được quan sát trong một nghiên cứu. Cả linh dương mẹ và con non trở lại với đàn chính vài giờ sau sinh.[4] Con cái tách mình ra khỏi đàn vài giờ lúc cho linh dương non bú. Cai sữa bắt đầu khi 3,5 tháng, và con non trở nên hoàn toàn độc lập vào khoảng 14 tuần tuổi.[5]

Môi trường sống và phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sừng kiếm trước đây phân bố tại thảo nguyên nhiều cỏ, bán hoang mạc[14] và hoang mạc trong một dải hẹp của miền bắc Trung Phi (NigerChad).[5] Phạm vi rộng trên rìa của sa mạc Sahara, chủ yếu ở khu vực Great Steppe, vùng nhiều cỏ giữa sa mạc thực sự và Sahel, một khu vực đặc trưng bởi lượng mưa hàng năm 75–150 mm (3,0–5,9 in). Năm 1936, một đàn duy nhất của 10.000 con linh dương đã được nhìn thấy trong khu vực thảo nguyên của Chad. Vào giữa những năm 1970, Chad là nhà của hơn 95% số lượng thế giới của loài này.[24]

Tình trạng và bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn linh dương tại vườn thú Brevard ở Viera, Florida
Linh dương tại vườn thú Praha, Czech

Linh dương sừng kiếm đã bị săn bắt gần như tuyệt chủng nhằm lấy cặp sừng. Suy giảm số lượng bắt đầu do kết quả của biến đổi khí hậu chính làm cho sa mạc Sahara trở nên khô. Quần thể miền Bắc gần như mất đi trước thế kỷ thứ 20. Suy giảm quần thể miền Nam tăng tốc khi người châu Âu bắt đầu xâm chiếm khu vực và săn chúng để lấy thịt, da và cặp sừng. Chiến tranh thế giới II và Nội chiến ở Chad bắt đầu vào những năm 1960 được cho là đã gây ra sự sụt giảm nặng nề của loài thông qua sự gia tăng săn bắn nhằm cung ứng thực phẩm.[5][25] Roadkill (động vật bị cán chết trên đường), cộng đồng du mục gần hố nước (nơi linh dương kiếm ăn mùa khô) và súng cầm tay dễ săn bắn cũng làm giảm số lượng.[26]

IUCN liệt kê linh dương sừng kiếm là loài tuyệt chủng trong khu vực trong Algeria, Burkina Faso, Chad, Ai Cập, Libya, Mali, Mauritania, Morocco, Niger, Nigeria, Senegal, Sudan, TunisiaTây Sahara, cho là tuyệt chủng trong tự nhiên từ năm 2000. Báo cáo được nhìn thấy tại Chad và Niger vẫn vô căn cứ, mặc dù điều tra sâu rộng được thực hiện trong suốt Chad và Niger từ 2001 đến 2004 trong một nỗ lực để phát hiện linh dương tại Sahel và Sahara. Ít nhất là cho đến năm 1985, 500 cá thể được ước tính sống sót tại Chad và Niger, nhưng đến năm 1988, chỉ có vài cá thể sống sót trong môi trường hoang dã.[1]

Hiện tại có một chương trình nuôi sinh sản toàn cầu cho linh dương sừng kiếm.[27] Năm 2005, ít nhất 1.550 cá thể được quản lý như một phần của chương trình nhân giống, và năm 2008, hơn 4.000 được tin sẽ được nhân giống trong các khu tư nhân tại United Arab Emirates.[1] Kế hoạch liên quan đến tái lập bầy đàn trong rào tại Vườn Quốc gia Bou Hedma (1985),[28] Vườn quốc gia Sidi Toui (1999) và vườn quốc gia Oued Dekouk (1999) ở Tunisia; vườn quốc gia Souss-Massa (1995) tại Morocco; và khu bảo tồn Ferlo Faunal (1998) và khu bảo tồn hoang dã Guembuel (1999) ở Senegal.[1]

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Minh họa khắc gỗ một con kỳ lân, từ tác phẩm The History of Four-Footed Beasts and Serpents của Edward Topsell
Tượng kỳ lân

Thời trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Ai Cập cổ đại, linh dương sừng kiếm được thuần hóa[12] và nuôi dưỡng, cung ứng lễ vật dâng thần thánh trong lễ nghi tôn giáo hoặc làm thực phẩm.[15] Loài này được gọi là ran và được nuôi nhốt. Thời La Mã cổ đại chúng được giữ trong các bãi cỏ, phục vụ cho thú săn bắn, và cho người La Mã thượng lưu ăn thịt. Linh dương sừng kiếm là loài ưa thích của thợ săn Sahelo vùng Sahara. Tấm da có chất lượng tốt, và vua của Rio de Oro gửi 1000 tấm khiên làm từ da linh dương đương đại vào thời Trung cổ. Từ đó, nó đã được sử dụng để làm dây thừng, áo giáp và yên cương.[2]

Kỳ lân thần thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Thần thoại về kỳ lân một sừng (unicorn) có khả năng bắt nguồn từ hình tượng linh dương sừng kiếm bị thương; AristotlePliny the Elder cho rằng linh dương sừng thẳng là "nguyên mẫu" của kỳ lân.[29] Từ góc độ nào đó, linh dương sừng kiếm có thể dường như có một sừng chứ không phải hai,[30][31] và cho rằng sừng cấu tạo từ xương rỗng mà không thể tái sinh, nếu một con linh dương sừng kiếm mất một trong hai sừng của nó, cuộc đời còn lại sẽ chỉ còn một sừng.[29]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Oryx dammah. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 9 September 2009. Database entry includes justification for why this species is listed as extinct in the wild.
  2. ^ a ă â b c d Gilbert, T.; Woodfine, T. (2004). The Biology, Husbandry and Conservation of Scimitar-horned Oryx (Oryx dammah) (ấn bản 2). United Kingdom: Marwell Preservation Trust. ISBN 978-0-9521397-2-0. 
  3. ^ Harper, Douglas. “oryx”. Online Etymology Dictionary. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê Huffman, B. Oryx dammah ( Scimitar-horned oryx )”. Ultimate Ungulate. 
  5. ^ a ă â b c d “Scimitar-horned oryx (Oryx dammah)”. ARKive. 
  6. ^ Claro, F.; Hayes, H.; Cribiu, E.P. (1994). “The C-, G-, and R-banded karyotype of the scimitar-horned oryx (Oryx dammah)”. Hereditas 120 (1): 1–6. doi:10.1111/j.1601-5223.1994.00001.x. PMID 8206781. 
  7. ^ Iyengar, A.; Gilbert, T.; Woodfine, T.; Knowles, J. M.; Diniz, F. M.; Brenneman, R. A.; Louis, E. E.; Maclean, N. (1 tháng 6 năm 2007). “Remnants of ancient genetic diversity preserved within captive groups of scimitar-horned oryx (Oryx dammah)”. Molecular Ecology 16 (12): 2436–49. doi:10.1111/j.1365-294X.2007.03291.x. 
  8. ^ Kumamoto, A.T.; Charter, S.J.; Kingswood, S.C.; Ryder, O.A.; Gallagher, Jr., D.S. (1999). “Centric fusion differences among Oryx dammah, O. gazella, and O. leucoryx (Artiodactyla, Bovidae)”. Cytogenetic and Genome Research 86 (1): 74–80. doi:10.1159/000015416. 
  9. ^ Mungall, E.C. (2007). Exotic Animal Field Guide : Nonnative Hoofed Mammals in the United States (ấn bản 1). College Station: Texas A&M University Press. tr. 169. ISBN 1-58544-555-X. 
  10. ^ Hoath, R. (2009). “Other Artiodactyla- Family Bovinae”. A Field Guide to the Mammals of Egypt. Cairo: Amer Univ In Cairo Press. tr. 149. ISBN 978-977-416-254-1. 
  11. ^ a ă â “Scimitar-horned Oryx (Oryx dammah)”. World Association of Zoos and Aquariums (WAZA). 
  12. ^ a ă Oryx dammah. Sahelo-Saharan Megafauna. Sahelo-Saharan Antelopes. 
  13. ^ a ă â “Scimitar-horned Oryx”. National Zoological Park. 
  14. ^ a ă â b c d đ e ê Johnson, H. Oryx dammah. University of Michigan Museum of Zoology. Animal Diversity Web. 
  15. ^ a ă “Animal species: Algazellen (Oryx dammah) | Animal and nature: animals”. Ours Life Force. 
  16. ^ Zoon, J. (22 tháng 3 năm 2012). “Elderly Oryx Dies at Smithsonian's National Zoo”. Smithsonian Newsdesk. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2012. 
  17. ^ Fayer, R. (2004). “Cryptosporidium: a water-borne zoonotic parasite”. Veterinary Parasitology 126 (1–2): 37–56. doi:10.1016/j.vetpar.2004.09.004. PMID 15567578. 
  18. ^ Alves, M.; Xiao, L.; Lemos, V.; Zhou, L.; Cama, V.; Cunha, M. B. da; Matos, O.; Antunes, F. (2005). “Occurrence and molecular characterization of Cryptosporidium spp. in mammals and reptiles at the Lisbon Zoo”. Parasitology Research 97 (2): 108–12. doi:10.1007/s00436-005-1384-9. 
  19. ^ Alyousif, M.S.; Al-Shawa, Y.R. (tháng 4 năm 2002). “A new coccidian parasite (Apicomplexa: Eimeriidae) from the scimitar-horned oryx, Oryx dammah”. Journal of the Egyptian Society of Parasitology 32 (1): 241–6. PMID 12049259. 
  20. ^ Chai, N. (tháng 12 năm 1999). “Vegetative endocarditis in a scimitar-horned oryx (Oryx dammah)”. Journal of zoo and wildlife medicine : official publication of the American Association of Zoo Veterinarians 30 (4): 587–8. PMID 10749451. 
  21. ^ Bush, M.; Custer, R. S.; Whitla, J. C.; Montali, R. J. (1983). “Hematologic and serum chemistry values of captive scimitar-horned oryx (Oryx tao): variations with age and sex”. The Journal of Zoo Animal Medicine 14 (2): 51. doi:10.2307/20094637. 
  22. ^ Pfeifer, S. (1985). “Sex differences in social play of scimitar-horned oryx calves (Oryx dammah)”. Zeitschrift für Tierpsychologie 69 (4): 281–92. doi:10.1111/j.1439-0310.1985.tb00153.x. 
  23. ^ Morrow, C.J.; Wildt, D.E.; Monfort, S.L. (1999). “Reproductive seasonality in the female scimitar-horned oryx (Oryx dammah)”. Animal Conservation (Cambridge University Press) 2 (4): 261–8. doi:10.1111/j.1469-1795.1999.tb00072.x. 
  24. ^ East, R. (1990). West and Central Africa. Gland: IUCN. tr. 27. ISBN 2-8317-0016-7. 
  25. ^ Oryx dammah (O. tao). Animal Info. 
  26. ^ Newby, J. (2009). “Can Addax and Oryx be saved in the Sahel?”. Oryx 15 (03): 262. doi:10.1017/S0030605300024662. 
  27. ^ United Nations Environment Programme (2008). Africa: Atlas of Our Changing Environment. Nairobi, Kenya: United Nations Environment Programme. ISBN 978-92-807-2871-2. 
  28. ^ Godon, I.J.; Gill, J.P. (2007). “Reintroduction of Scimitar-horned oryx Oryx dammah to Bou-Hedma National Park, Tunisia”. International Zoo Yearbook 32 (1): 69–73. doi:10.1111/j.1748-1090.1993.tb03517.x. 
  29. ^ a ă Rice, M. (1994). The Archaeology of the Arabian Gulf, c. 5000–323 BC. Routledge. tr. 63. ISBN 0-415-03268-7. 
  30. ^ “Arabian Oryx”. Natural History Museum of Los Angeles County. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2008. 
  31. ^ Tongren, S. (1981). What's for Lunch: Animal Feeding at the Zoo. GMG Publications. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]