Mã tà ma ní

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Mã tà ma ní là cách người Việt gọi lính đánh thuê từ Philippine chiến đấu trong quân viễn chinh Pháp xâm lược Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ 19. Năm 1858, trong cuộc tấn công Đà Nẵng lần thứ nhất, Pháp huy động 1.000 quân, hỗ trợ bởi lực lượng Tây Ban Nha. Tây Ban Nha gửi đến tham chiến 1.000 lính trong đó có 450 lính thuộc địa Philippine[1][2][3] Từ gọi Mã tà ma ní có thể xuất phát từ "Manila".

Quân Mã tà ma ní tuyển dụng chủ yếu từ hai dân tộc là TagalogVisayas, đạo quân này được người Pháp gọi là "thợ săn Tagals". Lực lượng này chỉ là bộ binh hạng nhẹ. Họ đã tham gia vào hầu hết các trận đánh của Pháp cho đến năm 1862.

Trong Bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu có đoạn:
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Mã tà, Ma ní hồn kinh. Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng nổ.

Có lý giải Mã tàMa ní là khác nhau, Mã tà là lính Mã Lay (Malaysia), Ma ní mới là lính từ Philippine. Nhưng trong cuộc xâm lược Việt Nam của Pháp không có người lính Malaysia nào cả.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ R.S. Gundry, China and Her Neighbours, Londres, 1893, trang 6.
  2. ^ Auguste Thomazi, La Conquête de l'Indochine, Paris, 1934, trang 29.
  3. ^ Auguste Thomazi, Histoire militaire de l'Indochine français, Hanoï, 1931, trang 24-25.
  4. ^ “Tìm hiểu từ Mã Tà - Lính Mã Tà”. Truy cập 10 tháng 8 năm 2018.