Sirindhorn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Maha Chakri Sirindhorn)
Jump to navigation Jump to search
Sirindhorn
Công chúa Thái Lan
นายกรัฐมนตรี และภริยา เฝ้าฯ รับเสด็จ สมเด็จพระเทพรัตนร - Flickr - Abhisit Vejjajiva (11).jpg
Thông tin chung
Thân phụ Vua Bhumibol Adulyadej (Rama IX)
Thân mẫu Hoàng hậu Sirikit
Sinh 2 tháng 4, 1955 (63 tuổi)
Bangkok, Thái Lan
Tôn giáo Phật giáo Theravada

Công chúa Maha Chakri Sirindhorn (tiếng Thái: มหาจักรีสิรินธร, Phát âm tiếng Thái: [mā.hǎː t͡ɕàk.krīː sì.rīn.tʰɔ̄ːn]; RTGS: Maha Chakkri Sirinthon), tên khai sinh Công chúa Sirindhorn Debaratanarajsuda Kitivadhanadullasobhak (tiếng Thái: สิรินธรเทพรัตนสุดา กิติวัฒนาดุลโสภาคย์; RTGS: Sirinthontheppharattanasuda Kitiwatthanadunlasophak) vào ngày 2 tháng 4 năm 1955. Bà là con thứ ba của nhà vua Bhumibol Adulyadej và Hoàng hậu Sirikit. Bà là người có quyền kế vị thứ hai sau Thái tử.

Năm 1958, Bà vào Trường Hoàng gia Giralda học tiếng Thái và tiếng Anh. Năm 1968, trong kỳ thi tốt nghiệp tiểu học, Bà đã đạt kết quả đứng đầu toàn quốc Thái Lan. Năm 1973 tốt nghiệp Trường Trung học Giralda. Bà đã tham dự kỳ thi đại học với thành tích xếp thứ tư, được nhận vào hệ Văn học ngữ văn của Trường đại học hàng đầu ở Thái Lan Chulalongkorn. Bà chọn chuyên ngành Văn học Thái, lịch sử, Phạn văn v.v. Năm 1976, Bà  tốt nghiệp Đại học Chulalongkorn, lấy bằng Cử nhân văn học ngữ văn. Trong 4 năm học, Bà liên tiếp đoạt huy chương vàng trong các kỳ thi. Năm 1979, Bà lấy được học vị thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ phương Đông Đại học Chulalongkorn. Ngày 5 tháng 12 năm 1979, Bà đã được phong danh hiệu "Công chúa Maha Chakri",  có quyền thừa kế ngai vàng. Năm 1980 lấy được học vị thạc sĩ chuyên ngành Khảo cổ học văn tự Phương Đông của trường Đại học nghệ thuật, học vị thạc sĩ chuyên ngành Phạn văn của trường Đại học Chulalongkorn. Năm 1986, Bà đã lấy học vị Tiến sĩ về Phát triển giáo dục tại Đại học Tổng hợp Srinakharinwirot.

Bà từng đảm nhiệm vị trí Phó chủ tịch điều hành Hội chữ thập đỏ Thái Lan, Chủ nhiệm khoa Lịch sử, Học viện quân sự Chulachomklao. Bà cũng là Thiếu tướng quân đội Hoàng gia, Chuẩn Đô đốc danh dự Hải quân Hoàng gia và là Phó nguyên soái danh dự không quân Hoàng gia Thái Lan.

Công chúa có kiến ​​thức sâu rộng về văn học, âm nhạc, hội họa, tác giả của nhiều tác phẩm, tiểu luận và thơ. Ngoài các vị vua và hoàng hậu, Bà luôn yêu thương người Thái Lan. Bà rất quan tâm đến người nghèo, thường xuyên đến thăm người nghèo, chẳng hạn như các trận động đất Ấn Độ Dương năm 2004, Bà đã đến thăm các nạn nhân bị ảnh hưởng.

Ngày 30-3- 2015, các trang web của Chính phủ Thái Lan công báo kỷ niệm Sinh nhật lần thứ 60 của Bà vào ngày 02-4-2015, ra sắc lệnh ân xá các tù nhân. Trong đó, quy định rằng các tử tù giảm xuống tù chung thân, tù chung thân giảm xuống 50 năm tù giam, ngoài ra một số tù nhân khác được tha trước thời hạn.

Được sự hướng dẫn của Hoàng hậu Sirikit, Bà quan tâm đến các lĩnh vực âm nhạc và ngôn ngữ, quan tâm đặc biệt tới ngôn ngữ và văn hóa các nước phương Đông, đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia và các nước láng giềng khác.

Thơ Sirindhorn[sửa | sửa mã nguồn]

Công chúa Maha Chakri Sirindhorn của Thái Lan không chỉ là một chính khách, một giáo sư, một học giả, mà còn là một nhà văn và nhà thơ. Tuy ở ngôi vị cao sang, nhưng Bà vẫn yêu thương đất nước con người Thái Lan. Điều đó thể hiện qua những vần thơ về tình yêu cây cỏ, chim muông, cảnh vật trên đất nước này.

Sau đây là ba bài thơ của bà:

.

Thơ vòng tròn cỏ xanh

.

Như ruộng mạ, một thảm xanh tươi tốt,

Cỏ non ơi, em dịu dàng xinh đẹp biết bao!

Thư giãn bên em, thích thú nhường nào.

Tôi khe khẽ ngâm nga câu hát,

Những tiếng ca hòa quyện trong gió mát,

Ở bên em, tôi khoan khoái nhẹ nhàng!

.

Như ruộng mạ, một thảm xanh tươi tốt,

Cỏ non ơi, em dịu dàng xinh đẹp biết bao!

Chúng tôi hút giọt nước của em mát mẻ ngọt ngào.

Có phải con bê ngoan của tôi yêu em? Ồ, đúng vậy!

Ngay cả thỏ rừng cũng thích em lắm đấy.

Tôi không lúc nào không ở bên em,

Như ruộng mạ, một thảm xanh tươi tốt!

1971

① Thơ vòng tròn là một thể thơ thường có 13 dòng , được lưu hành ở Pháp vào thế kỷ XVI.

.

.

Cú mèo

.

Trăng sáng ngời, một đêm tuyệt đẹp

Tĩnh lặng lối mòn, bóng cây nhẹ đung đưa.

Làn hương thơm, tỏa từ những chùm hoa

Trĩu đầu cành, sương muốn như nhỏ giọt.

.

Im lặng như tờ, thoảng trong khoảnh khắc

Tiếng đập cánh xạc xào huyền bí vang lên:

Đó là con cú mèo đi tìm kiếm trong đêm,

Tìm những thứ người ta nhìn không thấy.

.

Thấy con chim kiếm tìm trong đêm khuya ấy,

Tôi nghĩ tới cuộc đời trong vũ trụ bao la,  

Khám phá thiên nhiên bí ẩn quanh ta,

Có thể thấy chân lý trong cuộc sống?

1974

.

Buổi sớm mùa đông trên đồi

.

Đó là một buổi sớm lạnh lùng,

Trên núi cao, ngọn gió nhè nhẹ thổi

Đã đến rồi, một ngày tươi mới

Chân trời đang hé rạng nắng ban mai,

Đang hừng lên, ấm áp ánh mặt trời.

Tôi đi qua vườn hoa dạo bước,

Con chim nhỏ trên đầu cành nhảy nhót,

Lác đác bông hoa trên những bụi cỏ xanh.

Trời đã sáng mờ, vừa mới bình minh,

Đường dã ngoại, người đi còn thưa thớt.

Giẫm lên đất mỡ màu sương ướt,

Tôi bước nhẹ nhàng, đi tới đi lui,

Nhìn tường bao quanh ở dưới chân đồi,

Chỉ thấy một màn sương đậm đặc,

Giống như một đám mây trắng toát,

Phủ mịt mùng khắp thung lũng bao la,

Đám mù sương lờ lững, la đà,

Thấm tận đáy lòng, cả thiên nhiên tĩnh lặng.

.

(Bài dịch của Nhà văn Phạm Thanh Cải từ phiên bản tiếng Trung, nguồn shigeku.com)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn:

http://baike.baidu.com;  

http://shigeku.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]