Maximos III Michel Mazloum

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Maximos III Michel Mazloum (1779 - 1855) là một Thượng phụ người Syria của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông nguyên là Thượng phụ Tòa Thượng phụ Antioch (nghi lễ Greek-Melkites) và Thượng phụ hai tòa Thượng phụ Hiệu tòa Jerusalem và Alexandria. Trước đó, ông còn đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác trước khi trở thành người đứng đầu Giáo hội nghi lễ Greek-Melkites trong khoảng thời gian từ năm 1833 đến năm 1855.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng phụ Mazloum sinh vào tháng 11 năm 1779 tại Alep, Syria. Sau quá trình tu học dài hạn tại các cơ sở chủng viện theo quy định của Giáo luật, ngày 15 tháng 4 năm 1806, Phó tế Mazloum tiến đến việc được truyền chức linh mục.[2]

Chỉ bốn năm sau khi được truyền chức linh mục, ngày 26 tháng 7 năm 1810, linh mục Mazloum, khi đó chỉ 31 tuổi, được chọn làm Tổng giám mục Chính tòa Tổng giáo phận Alep (Beroea, Halab), tọa lạc tại Syria, nghi lễ Greek-Melkites. Tân Tổng giám mục được nhanh chóng thu xếp và thực hiện nghi lễ tấn phong vào ngày 6 tháng 8 sau đó. Ba giáo sĩ tham dự vào nghi thức chính yếu của nghi lễ này, với giáo sĩ Chủ phong là Thượng phụ Agapios III Matar, B.S., Thượng phụ Tòa Thượng phụ Antioch (nghi lễ Greek-Melkites). Hai vị khác trong vai trò phụ phong, bao gồm Giám mục Athanase IV Matar, Giám mục Chính tòa Giáo phận Saïda, nghi lễ Greek-Melkites và Giám mục Théo Habib, Giám mục Chánh tòa Giáo phận Akka, nghi lễ Greek-Melkites.[2]

Sáu năm sau, ngày 17 tháng 12 năm 1816, ông được bổn nhiệm làm Giám mục Hiệu tòa Abydus. Sau đó ít tháng lại được thăng Tổng giám mục với Danh hiệu Myra.[2]

Ngày 24 tháng 3 năm 1833, nhóm Giáo hội nghi lễ Greek-melkites nhóm họp, nhất trí chọn vị Tổng giám mục Mazloum làm Thượng phụ Tòa Thượng Antioch và Giám mục Chính tòa Giáo phận Damas, nghi lễ Greek-Melkites.[2] Ngoài ra, ông cũng kiêm thêm các tước hiệu Thượng phụ của hai Tòa Thượng phụ Hiệu tòa là Jerusalem và Alexandria, đều theo nghi lễ Greek-Melkites.[1] Ba năm sau, tin tức từ phía Giáo hội Công giáo Rôma xác nhận và chuẩn y cuộc bầu chọn này, ngày 1 tháng 2 năm 1836.[2]

Ngày 11 tháng 8 năm 1855, ông qua đời, thọ 76 tuổi, với 22 năm trên cương vị Thượng phụ Tòa Thượng phụ Antioch, nghi lễ Greek-Melkites.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]