Messier 54

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Messier 54
Messier 54 HST.jpg
M54 do Kính viễn vọng không gian Hubble chụp.
Ghi công: ESA/Hubble & NASA
Dữ liệu quan sát (Kỷ nguyên J2000)
Kiểu quang phổIII[1]
Chòm saoNhân Mã
Xích kinh18h 55m 03,33s[2]
Xích vĩ−30° 28′ 47,5″[2]
Khoảng cách87,4 kly (26,8 kpc)[3]
Cấp sao biểu kiến (V)8,37[4]
Kích thước (V)12′.0
Đặc trưng vật lý
Bán kính153 ly[5]
Tuổi dự kiến13 tỷ năm[6]
Ghi chúCó lẽ là ngoài Ngân Hà
Tên gọi khácM54,[4] NGC 6715,[4] GCl 104,[4] C 1851-305[4]
Xem thêm: Cụm sao cầu, Danh sách cụm sao cầu

Messier 54 (còn được gọi là M54 hoặc NGC 6715) là cụm sao cầu trong chòm sao Nhân Mã. Nó được Charles Messier phát hiện vào năm 1778 và sau đó được đưa vào danh mục các thiên thể giống như sao chổi.

M54 dễ dàng được tìm thấy trên bầu trời, gần với ngôi sao ζ Sagittarii. Tuy nhiên, nó không thể phân giải thành các ngôi sao riêng lẻ ngay cả với các kính thiên văn nghiệp dư lớn.

Khoảng cách[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây M54 được cho là thuộc Ngân Hà, cách Trái Đất khoảng 50.000 năm ánh sáng. Đến năm 1994, người ta phát hiện ra rằng M54 rất có thể thuộc về thiên hà hình elip lùn Sagittarius (SagDEG),[7] khiến nó trở thành cụm sao cầu đầu tiên trước đây được cho là một phần của Ngân Hà ngày nay được gán lại thành ngoài Ngân Hà, ngay cả khi không được công nhận như vậy trong trên 2,25 thế kỷ. Vì nó nằm ở trung tâm của SagDEG, một số tác giả nghĩ rằng nó thực sự có thể là phần lõi của thiên hà SagDEG;[8] tuy nhiên những người khác lại đề xuất rằng nó là một cụm sao cầu thực sự nằm trong trung tâm của thiên hà này do sự phân rã quỹ đạo của nó gây ra bởi ma sát động.[9]

Các ước tính hiện đại hiện đặt M54 ở khoảng cách khoảng 87.000 năm ánh sáng,[3] chuyển đổi tương đương thành bán kính thực sự là 150 năm ánh sáng.[5] Nó là một trong những cụm sao cầu có độ tập trung cao, thuộc cấp III [1] (I là cấp có độ tập trung cao nhất và XII là cấp có độ tập trung thấp nhất). Nó tỏa sáng với độ sáng gấp khoảng 850.000 lần so với Mặt Trời và có cấp sao tuyệt đối −10,0.

Lỗ đen khối lượng trung bình[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2009, một nhóm các nhà thiên văn học đã báo cáo rằng họ đã tìm thấy bằng chứng về một lỗ đen khối lượng trung bình trong phần lõi của M54.[10]

Bản đồ hiển thị vị trí của M54 (RobertoMura)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Shapley, Harlow; Sawyer, Helen B. (tháng 8 năm 1927). “A Classification of Globular Clusters”. Harvard College Observatory Bulletin 849 (849): 11–14. Bibcode:1927BHarO.849...11S. 
  2. ^ a ă Goldsbury, Ryan; Richer, Harvey B.; Anderson, Jay; Dotter, Aaron; Sarajedini, Ata; Woodley, Kristin (tháng 12 năm 2010). “The ACS Survey of Galactic Globular Clusters. X. New Determinations of Centers for 65 Clusters”. The Astronomical Journal 140 (6): 1830–1837. Bibcode:2010AJ....140.1830G. arXiv:1008.2755. doi:10.1088/0004-6256/140/6/1830. 
  3. ^ a ă Ramsay, Gavin; Wu, Kinwah (2005). “Chandra observations of the globular cluster M54”. Astronomy and Astrophysics 447: 199–203. Bibcode:2006A&A...447..199R. arXiv:astro-ph/0510217. doi:10.1051/0004-6361:20053855. 
  4. ^ a ă â b c “M 54”. SIMBAD. Trung tâm dữ liệu thiên văn Strasbourg. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2006. 
  5. ^ a ă Từ lượng giác: bán kính = khoảng cách × sin(đường kính_góc/2) = 153 ly.
  6. ^ Geisler, Doug; Wallerstein, George; Smith, Verne V.; Casetti-Dinescu, Dana I. (2007). “Chemical Abundances and Kinematics in Globular Clusters and Local Group Dwarf Galaxies and Their Implications for Formation Theories of the Galactic Halo”. Publications of the Astronomical Society of the Pacific 119 (859): 939–961. Bibcode:2007PASP..119..939G. arXiv:0708.0570. doi:10.1086/521990. 
  7. ^ Siegel, Michael H.; Dotter, Aaron; Majewski, Steven R.; Sarajedini, Ata và đồng nghiệp (2007). “The ACS Survey of Galactic Globular Clusters: M54 and Young Populations in the Sagittarius Dwarf Spheroidal Galaxy”. Astrophysical Journal Letters 667 (1): L57–L60. Bibcode:2007ApJ...667L..57S. arXiv:0708.0027. doi:10.1086/522003. 
  8. ^ Carretta E.; Bragaglia A.; Gratton R. G.; Lucatello S. và đồng nghiệp (2010). “M54 + Sagittarius = ω Centauri”. The Astrophysical Journal Letters 714 (1): L7–L11. Bibcode:2010ApJ...714L...7C. arXiv:1002.1963. doi:10.1088/2041-8205/714/1/L7. 
  9. ^ Bellazzini M.; Ibata R. A.; Chapman S. C.; Mackey A. D. và đồng nghiệp (2008). “The Nucleus of the Sagittarius Dsph Galaxy and M54: a Window on the Process of Galaxy Nucleation”. The Astronomical Journal 136 (3): 1147–1170. Bibcode:2008AJ....136.1147B. arXiv:0807.0105. doi:10.1088/0004-6256/136/3/1147. 
  10. ^ Ibata, R.; Bellazzini, M.; Chapman, S. C.; Dalessandro, E.; Ferraro, F.; Irwin, M.; Lanzoni, B.; Lewis, G. F.; Mackey, A. D. (2009). “Density and Kinematic Cusps in M54 at the Heart of the Sagittarius Dwarf Galaxy: Evidence for a 104 M Black Hole?”. Astrophysical Journal Letters 699 (2): L169–L173. Bibcode:2009ApJ...699L.169I. arXiv:0906.4894. doi:10.1088/0004-637X/699/2/L169.