Ngân hàng Nam Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt

Navibank - Điểm tựa tài chính, nâng bước thành công
Loại hình
Công ty cổ phần
Ngành nghềNgân hàng
Thể loạiTài chính
Thành lậpngày 18 tháng 09 năm 1995
Nhân viên chủ chốt
Chủ tịch Hội đồng Quản trị: Ông Nguyễn Vĩnh Thọ
Tổng giám đốc: Ông Lê Quang Trí
Sản phẩmDịch vụ tài chính
Tổng tài sản22.496 tỷ đồng (31/12/2012)
Số nhân viên
1.450
Websitehttp://www.navibank.com.vn/

Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Nam Viet Commercial Joint Stock Bank), được gọi tắt là Navibank, được thành lập vào ngày 18 tháng 09 năm 1995 theo Giấy phép số 00057/NH–CP ngày 18/09/1995 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày 13 tháng 09 năm 2010, được Navibank ghi nhận như là cột mốc chiến lược trong lịch sử phát triển bằng sự kiện chính thức niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) theo Quyết định số 566/QĐ–SGDCK ngày 12/08/2010 với mã chứng khoán NVB.

Thông tin liên lạc[sửa | sửa mã nguồn]

Địa chỉ: Số 343 đường Phạm Ngũ Lão phường Phạm Ngũ Lão quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Tel: (08) 38 216 216 Fax: (08) 39 142 738

Email: navibank@navibank.com.vn

Trang web: http://www.navibank.com.vn/

Vốn điều lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 31/12/2011 vốn điều lệ của Navibank là 3.010 tỷ Đồng

Sản phẩm dịch vụ chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huy động vốn, tiếp nhận vốn, ủy thác, vay vốn, cho vay, chiết khấu các thương phiếu, hùn vốn liên doanh, dịch vụ thanh toán, phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ.

Mạng lưới kênh phân phối[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 91 chi nhánh và phòng giao dịch, bao gồm: 01 Hội Sở Chính, 01 Sở Giao dịch, 19 Chi nhánh, 70 Phòng Giao dịch và Quỹ Tiết kiệm tại 24 tỉnh/thành trên toàn quốc.
Đưa vào hoạt động 32 máy ATM (trong đó 19 máy đặt tại TP. Hồ Chí Minh) và lắp đặt 359 POS trên toàn quốc.
Về mạng lưới chấp nhận thẻ, Navibank đã phát triển được 339 đơn vị chấp nhận thẻ (tăng 50 đơn vị so với năm trước).
Hệ thống ATM/POS của Navibank chấp nhận được thẻ nội địa của 41 ngân hàng thành viên trong hệ thống Smartlink, BanknetVN, VNBC và ngược lại chủ thẻ Navicard cũng giao dịch miễn phí trên ATM/POS của các ngân hàng trong các liên minh trên.
Tính đến 31/12/2011, Navibank hiện có quan hệ đại lý với hơn 100 tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, nổi bật như Citibank, Bank of America, Deutsche Bank và nhiều tổ chức khác.

Công ty trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty Quản lý Nợ và Khai thác tài sản Nam Việt Ngân hàng

Được thành lập vào ngày 28 tháng 12 năm 2006, Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản Nam Việt Ngân hàng (NAVIAMC) hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên do Ngân hàng TMCP Nam Việt là chủ sở hữu.

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 31/12/2011, có 15 người là thành viên Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát và Ban điều hành (trong đó có 07 người có trình độ trên Đại học và 08 người có trình độ Đại học) cùng 1,450 cán bộ nhân viên đang công tác tại Ngân hàng TMCP Nam Việt.

Chiến lược[sửa | sửa mã nguồn]

Định hướng chiến lược:

Navibank định hướng trở thành ngân hàng thương mại bán lẻ chuẩn mực, hiện đại và hàng đầu Việt Nam

Chiến lược phát triển trung và dài hạn:

Chiến lược phát triển thị trường: phấn đấu gia tăng thị phần cho các sản phẩm và dịch vụ hiện có của Navibank trên cơ sở khai thác tối đa khả năng sử dụng sản phẩm dịch vụ của các đối tượng khách hàng trong từng thời kỳ trên các phân khúc thị trường mục tiêu đã lựa chọn. Mục tiêu đến năm 2020, thị phần hoạt động (huy động vốn và cho vay) của Navibank sẽ chiếm tối thiểu 5% thị phần trong ngành ngân hàng. [cần dẫn nguồn] Để hỗ trợ cho sự thành công của chiến lược này, song song với việc hoàn thiện hệ thống phân phối hiện có, Navibank sẽ tiếp tục hình thành các điểm phân phối mới trên phạm vi cả nước đồng thời tăng cường công tác chiêu thị nhằm xây dựng hình ảnh, quảng bá thương hiệu Navibank đến rộng rãi khách hàng.

Chiến lược phát triển sản phẩm: tạo sự khác biệt cho các sản phẩm dịch vụ của Navibank bằng việc ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng tính chính xác, an toàn, bảo mật, nhanh chóng trong quá trình giao dịch. Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khảo sát nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để phục vụ cho công tác thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ chủ đạo, nổi bật dẫn đầu cho từng nhóm khách hàng. Sản phẩm dịch vụ tài chính của ngân hàng phải được thiết kế theo hướng mở, đảm bảo tính linh hoạt cần thiết nhằm đáp ứng các nhu cầu khác biệt của khách hàng.

Cổ đông nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

SBI Securities Co., Ltd

Các sự kiện chính trong năm 2011[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhận danh hiệu Doanh nghiệp có sản phẩm dịch vụ tốt nhất năm 2011[1]
  • Nhận danh hiệu Doanh nghiệp Sài gòn tiêu biểu 2011[2],
  • Nhận danh hiệu 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam (V1000)[3]
  • Nhận danh hiệu 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2011 [4]
  • Nhận giải thưởng từ Citibank: Tỷ lệ điện đạt chuẩn STP (Straight – Through – Processing)

Tham khảo:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]