Nguyễn Thành Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Thành Long
Sinh 16 tháng 6, 1925(1925-06-16)
Duy Xuyên, Quảng Nam
Mất 06 tháng 5, 1991 (65 tuổi)
Hà Nội
Công việc Nhà văn

Nguyễn Thành Long (16 tháng 6 năm 19256 tháng 5 năm 1991), còn có các bút danh Lưu Quỳnh, Phan Minh Thảo, là một nhà văn Việt Nam.

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Thành Long sinh tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, nguyên quán ở Quy Nhơn, Bình Định, con một gia đình viên chức nhỏ. Năm 18 tuổi ông chuyển ra học ở Hà Nội và có viết cho báo Thanh Nghị (1943). Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Thành Long tham gia hoạt động văn nghệ trong những năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954) ở Nam Trung Bộ và bắt đầu viết văn vào thời gian này[1].

Sau 1954, tập kết ra Bắc, Nguyễn Thành Long chuyển về sáng tác và biên tập ở các báo chí, nhà xuất bản. Có thời gian ông còn tham gia dạy ở trường viết văn Nguyễn Du. Ông mất ở Hà Nội ngày 6 tháng 5 năm 1991 vì bệnh ung thư đại tràng[cần dẫn nguồn], trong cảnh lặng lẽ khi vợ đi công tác nước ngoài, một con đi học nước ngoài, một con nhỏ đi học[2].

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Thành Long là cây bút chuyên viết về truyện ngắn và ký. Nét đặc sắc trong truyện ngắn của ông là luôn tạo được hình tượng đẹp, ngôn ngữ giàu chất thơ, trong trẻo, nhẹ nhàng[cần dẫn nguồn].

Nguyễn Thành Long đã cho xuất bản nhiều truyện ngắn, trong đó nổi bật là các tập: Bác cơm Cụ Hồ (1952), Gió bấc gió nồm (1956), Hướng điền (1957), Chuyện nhà chuyện xưởng (1962), Trong gió bão (1963), Gang ra (1964), Những tiếng vỗ cánh (1967), Giữa trong xanh (1972), Nửa đêm về sáng (1978), Lý Sơn mùa tỏi (1980), Sáng mai nao, xế chiều nào (1984),...

Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa viết năm 1970, sau chuyến đi thực tế Lào Cai của nhà văn, được in trong tập Giữa trong xanh (1972). Đây là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Thành Long. Qua câu chuyện về những nhân vật không tên, tác giả muốn giới thiệu với người đọc về một vùng đất lặng lẽ mà thơ mộng, ở đó có những con người được lao động thầm lặng, say mê hiến dâng tuổi trẻ và tình yêu của mình cho quê hương, đất nước.

Ngoài sáng tác, ông còn là dịch giả hai tác phẩm của Antoine de Saint-Exupéry: Em bé con nhà trời và Quê xứ con người (nguyên tác: Terre des hommes)[3].

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Thành Long nhận được giải thưởng Phạm Văn Đồng do Chi hội văn nghệ liên khu V trao tặng vào năm 1953 cho tập bút ký Bát cơm Cụ Hồ (1952)[4]. Ngày 25 tháng 7 năm 2008, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Lao động hạng Nhì[5].

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Thành Long có hai con gái, tên là Quê Hương và Hoa Hồng. Cả hai đều là tiến sĩ vật lý. Nguyễn Thị Quê Hương giảng dạy tại Đại học Marshall (Mỹ) còn người con còn lại làm việc tại Pháp[4][5].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Văn Trang (29 tháng 3 năm 2015). “Nhà văn Nguyễn Thành Long với ngày giải phóng Quy Nhơn”. Báo Bình Định online. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2017. 
  2. ^ Thanh Quế (16 tháng 4 năm 2007). “Nhà văn Nguyễn Thành Long, người trầm lặng”. Tạp chí Văn nghệ Công an. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2017. 
  3. ^ HP (31 tháng 7 năm 2012). “Bùi Giáng - giọng thơ vô tiền khoáng hậu”. Đài phát thanh Việt Nam. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2017. 
  4. ^ a ă Nguyễn Văn Trang (25 tháng 9 năm 2008). “Nhà văn Nguyễn Thành Long qua hồi ức của con gái”. Báo Bình Định online. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2017. 
  5. ^ a ă Hoài Thương (26 tháng 7 năm 2008). “Trao Huân chương LĐ cho gia đình nhà văn Nguyễn Thành Long”. Báo Thể thao & Văn hóa online. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2017.