Platycercus caledonicus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Platycercus caledonicus
Platycercus caledonicus -Tasmania -female-8.jpg
Chim mái tại Tasmania, Úc
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Aves
Bộ (ordo) Psittaciformes
Liên họ (superfamilia) Psittacoidea
Họ (familia) Psittaculidae
Phân họ (subfamilia) Platycercinae
Tông (tribus) Platycercini
Chi (genus) Platycercus
Loài (species) P. caledonicus
Danh pháp hai phần
Platycercus caledonicus
(Gmelin, 1788)
Phạm vi phân bố (lục)
Phạm vi phân bố (lục)

Platycercus caledonicus là một loài vẹt bản địa Tasmania và các quần đảo trên eo biển Bass. Nó được mô tả bởi nhà tự nhiên học người Đức Johann Friedrich Gmelin năm 1788. Đạt chiều dài 37 cm (14.5 in), đây là loài dài nhất trong chi Platycercus. Hai phân loài hiện đang được công nhận. P. caledonicus có đầu, cổ và các phần dưới thân màu vàng, một vạch đỏ ở khoảng lông trên mỏ và má màu tím-lam. Lông trên lưng chủ yếu có màu đen và lục, đuôi dài màu làm và lục. Cả hai giới có bộ lông tương tự nhau, con mái có màu vàng xập hơn một chút và có những vệt đỏ nổi bật, cũng như mỏ nhỏ hơn. Con non và chưa trưởng thành có lông chủ yếu màu lục.

Được tìm thấy ở một loạt môi trường sống khác nhau, P. caledonicus là một loài ăn thực vật, ăn hạt cây, quả mọng, quả hạch, trái cây, và hoa, nhưng cũng ăn côn trùng và ấu trùng côn trùng. Chúng xây tổ trong hốc cây. Chúng phổ biến và dễ bắt gặp khắp Tasmania, nên được IUCN xem là một loài ít quan tân. Phân loài đảo King được phân loại là dễ thương tổn vì môi trường sống của chúng trên đảo đang dần mất đi.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Con trưởng thành.

P. caledonicus trưởng thành dài 29 đến 36 cm (11 đến 14 in),[2] sải cánh 44–54 cm (17–21 in),[2][3] và một cái đuôi dài với chừng mười hai lông đuôi, hai lông ở trung tâm dài hơn.[3] Chim trống trưởng thành nặng hơn, trung bình khoảng 150 g (5,3 oz) so với con mái là 120 g (4,2 oz),[2] và có mỏ lớn hơn.[4]

P. caledonicus có đầu và phần dưới thân vàng với má màu lam, vạch đỏ ở khoảng lông trên mỏ. Cánh màu đen và lục, với phần rìa và thùy cánh màu lam-tím. Mống mắt nâu, mỏ xám nhạt, còn gốc mỏ xám đậm. Chân màu xám.[4] Phân lông vàng của con mái xậm hơn và thường có những vệt đỏ.[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Platycercus caledonicus. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. 2012. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ a ă â Higgins 1999, tr. 313.
  3. ^ a ă Higgins 1999, tr. 320.
  4. ^ a ă Higgins 1999, tr. 319.
  5. ^ Higgins 1999, tr. 318.