Quảng Tín (huyện)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Quảng Tín (chữ Hán: 廣信) là một huyện lập ra thời Bắc thuộc (đời Hán Vũ Đế nhà Tây Hán[1]), phân chia ranh giới hai tỉnh Quảng ĐôngQuảng Tây thuộc Trung Quốc ngày nay.

Huyện Quảng Tín là trị sở quận Thương Ngô thời Tây Hán và Đông Hán (tức quận Tân Quảng 新廣 thời nhà Tân) và là châu trị của bộ Giao Chỉ (hay Giao Châu) từ năm 106 TCN cho đến khi Phiên Ngung được chọn làm trị sở Giao Châu vào năm 210.[2]

Địa bàn của huyện nay là thành phố Ngô Châu thuộc Quảng Tây hoặc huyện Phong Khai thuộc địa cấp thị Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hán thư, thiên Địa lý chí, Quyển 28, chép: "蒼梧郡,武帝元鼎六年開。莽曰新廣,屬交州。有離水關。戶二萬四千三百七十九,口十四萬六千一百六十。縣十:廣信,莽曰廣信亭..." (Thương Ngô quận, Vũ Đế Nguyên Đỉnh lục niên khai. Mãng viết Tân Quảng, thuộc Giao Châu. Hữu Ly thủy quan. Hộ nhị vạn tứ thiên tam bách thất thập cửu, khẩu thập tứ vạn lục thiên nhất bách lục thập. Huyện thập: Quảng Tín, Mãng viết Quảng Tín đình...)
  2. ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Tiền biên, Quyển 2, chép: "Lại còn việc: khi nhà Hán đặt bộ Giao Chỉ, lỵ sở ở Liên Thụ (tức Luy Lâu), năm Nguyên Phong thứ 5 (106 TCN) dời trị sở sang huyện Quảng Tín ở quận Thương Ngô. Đến năm Kiến An thứ 15 (210 SCN), đóng lỵ sở ở huyện Phiên Ngung. Nhà Ngô lại dời lỵ sở sang Long Biên (tức Long Uyên), còn ở lỵ sở cũ (chỉ Phiên Ngung) đặt làm Quảng Châu."