Robert Fico

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Robert Fico
Chức vụ
Nhiệm kỳ Tháng 3 năm 2012 – 
Tiền nhiệm Iveta Radičová
Nhiệm kỳ 23 tháng 6 năm 1992 – 4 tháng 7 năm 2006
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản (1987–1990)
Đảng Cánh hữu Dân chủ (1990–1999)
Đảng Dân chủ Xã hội Smer (1999-nay)
Sinh 15 tháng 9, 1964 (53 tuổi)
Topoľčany, Czechoslovakia
(now Slovakia)
Trường Đại học Comenius ở Bratislava
Con cái một con trai

Robert Fico (sinh ngày 15 tháng 9 năm 1964) là một chính trị gia Slovakia. Ông từng là Thủ tướng Chính phủ Slovakia trong 4 năm, từ ngày 4 tháng 7 năm 2006 cho đến ngày 8 tháng 7 năm 2010. Ngày 10 tháng 3 năm 2012, ông có khả năng trở thành Thủ tướng Chính phủ được chỉ định khi Đảng Dân chủ Xã hội Smer của ông (Tiếng Slovakia: Smer - sociálna demokracia) giành được đa số tuyệt đối trong số 150 ghế Hội đồng quốc gia (Nghị viện). Đảng của ông giành được 44,85% số phiếu, cho phép đảng này có quyền thành lập một chính phủ đa số. Đảng của ông đã chiến thắng trong cuộc bầu cử quốc hội vào năm 2006, nhận được khoảng 30% phiếu bầu. Sau chiến thắng của ông đã tạo ra 1 liên minh với Đảng Dân tộc Slovakia, 1 đảng dân tộc cực đoan[1][2][3] có lãnh đạo là Ján Slota, và với Phong trào Đảng nhân dân vì một Slovakia Dân chủ dẫn đầu là Vladimír Mečiar.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Fico đã sinh năm 1964, tại thị trấn Topoľčany. Cha ông là một nhà điều hành xe nâng và mẹ của ông làm việc trong một cửa hàng giày. Fico có hai anh chị em, ông kết hôn với Svetlana Ficová, họ có một con trai.

Fico tốt nghiệp luật từ trường đại học tại Tiệp Khắc, ông tốt nghiệp Khoa Luật của Đại học Comenius ở Bratislava và sau đó làm việc cho Viện Nhà nước và Pháp luật của Viện Hàn lâm Khoa học Slovakia. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Tiệp Khắc vào năm 1987. Sau khi cuộc Cách mạng Nhung năm 1989, sau sự sụp đổ của chế độ cộng sản tại Tiệp Khắc, Fico gia nhập Đảng Cánh hữu Dân chủ (SDL), một tổ chức kế thừa của Đảng Cộng sản Slovakia. Từ 1994 đến 2000 Fico đại diện cho Slovakia là cố vấn pháp lý tại Tòa án Nhân quyền châu Âu nhưng bị thua tất cả 14 trường hợp mà ông xử lý[4].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mudde, Cas (2005). Racist extremism in Central and Eastern Europe. Routledge. tr. xvi. ISBN 978-0-415-35593-3. 
  2. ^ Barany, Zoltan D. (2002). The East European gypsies: regime change, marginality, and ethnopolitics. Cambridge University Press. tr. 313, 408. ISBN 978-0-521-00910-2. 
  3. ^ Sokolova, Juliana (ngày 2 tháng 4 năm 2009). “Slovakia: in search of normal”. openDemocracy.net. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  4. ^ “European Court of Human Rights: Annual surveys of activity” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2011. [cần số trang]